Trận Auerstadt, ngày 14 tháng 10 năm 1806

Trận Auerstadt, ngày 14 tháng 10 năm 1806


We are searching data for your request:

Forums and discussions:
Manuals and reference books:
Data from registers:
Wait the end of the search in all databases.
Upon completion, a link will appear to access the found materials.

Trận Auerstadt, ngày 14 tháng 10 năm 1806

Giới thiệu
Quân đội
Chiến trường
Trận chiến
Hậu quả và Kết luận

Giới thiệu

Trận Auerstädt (ngày 14 tháng 10 năm 1806) là trận quan trọng nhất trong hai chiến thắng đồng thời của Pháp trước quân Phổ và chứng kiến ​​Thống chế Davoût chỉ với một quân đoàn đánh bại chủ lực của quân đội Phổ trong khi tiến về phía nam Napoléon với hầu hết quân Grand Armée đánh bại lực lượng bảo vệ sườn nhỏ hơn của Phổ tại Jena.

Vào tháng 9 năm 1806, khi bắt đầu cuộc Chiến tranh của Liên minh lần thứ tư, quân Phổ tiến vào Sachsen, buộc quân đội Saxon phải phục vụ bên cạnh họ và sau đó tạm dừng trong khi các chỉ huy của họ cố gắng quyết định xem phải làm gì tiếp theo. Sau nhiều lần thay đổi kế hoạch, cuối cùng họ quyết định tập trung tại Erfurt và tiến về phía tây nam, một động thái có thể đe dọa thông tin liên lạc của Napoléon.

Lỗ hổng lớn nhất trong kế hoạch của quân Phổ là họ cho rằng Napoléon sẽ ở thế phòng thủ. Khó có thể ngờ rằng anh ấy đã không làm điều này, và thay vào đó, tập trung Grand Armée tại Bamberg. Sau đó, anh ta băng qua những ngọn đồi cây cối rậm rạp của Thüringerwald theo ba cột, một động thái sẽ đưa anh ta vào cánh trái của quân Phổ và đe dọa cắt đứt chúng khỏi Berlin. Mục đích của Napoléon là buộc quân Phổ chấp nhận trận chiến và ngăn họ rút lui về phía đồng minh Nga.

Davout và Bernadotte đã tạo thành cột trung tâm của quân đội khi nó vượt qua Thüringerwald. Cuộc tiến công bắt đầu vào ngày 8 tháng 10, và quân đội đã xuất hiện một cách an toàn từ các ngọn đồi mà không bị thử thách. Các cuộc đụng độ nhỏ tại Schleiz (ngày 9 tháng 10) và Saalfeld (ngày 10 tháng 10) đã báo động cho quân Phổ về sự hiện diện của họ, và bắt đầu một thời gian ngắn mà không bên nào hoàn toàn chắc chắn bên kia đang làm gì. Vào ngày 10 tháng 10, Napoléon tin rằng quân Phổ sẽ di chuyển về phía đông qua sông Saale và tiến đến Gera, từ đó họ có thể chặn đường đến Leipzig. Ông ra lệnh cho quân đội của mình tiến về Gera với hy vọng đến được đó trước quân Phổ. Người Phổ có một kế hoạch khác. Hohenlohe với lực lượng bảo vệ bên sườn phải di chuyển đến Jena trong khi Brunswick với quân chủ lực tập trung tại Weimar, giữa Jena và Erfurt.

Vào ngày 11 tháng 10, Napoléon biết rằng quân Phổ không tiến đến Gera. Bây giờ ông quyết định rằng họ phải tập trung xung quanh Erfurt và vì vậy vào ngày 12 tháng 10, ông ra lệnh cho quân đội của mình quay sang trái và chuẩn bị vượt qua Salle, tiến về phía tây và tấn công quân Phổ tại Erfurt vào ngày 16 tháng 10. Davoût được lệnh đến tìm Naumberg, nơi anh ta sẽ tạo thành cánh phải của quân đội trong khi Bernadotte được gửi đến Kosen, nơi có một cây cầu khác bắc qua sông. Hai quân đoàn hướng tới Jena và phần còn lại của quân đoàn theo dõi con đường đến Leipzig.

Vào ngày 13 tháng 10, Napoléon ban hành ba bộ mệnh lệnh. Trong tập đầu tiên, ông ra lệnh cho Bernadotte tham gia Davout. Ngay sau khi ban hành lệnh này, ông nhận được một loạt các báo cáo thuyết phục rằng quân Phổ đang có kế hoạch rút lui về phía bắc hướng tới Magdeburg. Davout được lệnh ở lại nơi anh ta đang ở, nhưng lệnh của Bernadotte bị thay đổi và anh ta được gửi đến Dornburg, xa hơn về phía nam dọc theo Saale. Cuối cùng, một tin nhắn đến từ Lannes thông báo cho anh ta rằng một lực lượng mạnh của Phổ đang đối mặt với anh ta tại Jena. Napoléon quyết định rằng đây phải là lực lượng chính của Phổ và quân Phổ có thể sẽ tấn công Lannes. Bây giờ anh ta đã ra lệnh cho hầu hết người của mình tập trung tại Jena. Davout được lệnh tiến về Apolda, đi qua thị trấn Auerstädt. Nếu Napoléon đúng thì điều này sẽ khiến Davout đứng sau quân Phổ và cắt đứt đường rút lui của họ.

Cuối mệnh lệnh của Davout, một phần tái bút đã được thêm vào, điều này sẽ gây ra nhiều tranh cãi. Nó có nội dung 'Nếu… Bernadotte đi cùng bạn, bạn có thể hành quân cùng nhau, nhưng Hoàng đế hy vọng rằng anh ấy sẽ ở vị trí được giao cho anh ấy tại Dornburg'. Khi lệnh này đến được Davout, vào sáng sớm ngày 14 tháng 10, quân đoàn của Bernadotte đã ở rất gần anh ta. Lệnh đã được ban hành, nhưng Bernadotte từ chối thay đổi kế hoạch của mình và dành ngày 14 tháng 10 để hành quân trong khoảng cách giữa hai trận chiến, không tham gia vào cả hai trận.

Napoléon đã sai về ý định của quân Phổ. Khi họ phát hiện ra rằng Davout đã ở phía đông bắc của họ, họ quyết định rút lui về phía bắc. Họ sẽ hành quân qua Auerstädt và sau đó quay về phía bắc sau một thời gian ngắn băng qua Saale. Điều này có nghĩa là cơ quan chính của Công tước Brunswick và quân đoàn đơn lẻ của Davoût bắt đầu một ngày hành quân về phía nhau dọc theo con đường giữa Auerstädt và Kosen.

Quân đội

Davoût có quyền chỉ huy Quân đoàn III. Lực lượng này bao gồm các sư đoàn bộ binh của Morand, Friant và Gudin, với 26.000 quân, giữa chúng được hỗ trợ bởi 1.622 kỵ binh, 1.681 pháo binh và 46 khẩu súng.

Ông phải đối mặt với quân đội chính của Phổ dưới sự chỉ huy của Công tước Brunswick, nhưng với cả Vua Frederick William III của Phổ cũng có mặt. Đội quân này có tổng cộng khoảng 60.000-63.000 người, mặc dù chỉ có khoảng 50.000 người trong số họ tham gia trận chiến, và những đội quân tham gia đã được đưa vào trận chiến từng phần. Công tước bị trọng thương sớm trong trận chiến. Sau đó, Vua Frederick William chính thức nắm quyền chỉ huy quân đội, nhưng ông chưa bao giờ nắm rõ tình hình.

Quân đội Phổ không được tổ chức tốt như quân Pháp. Sư đoàn 1 hay Cánh phải do Tướng William Frederick, Hoàng tử Orange, chỉ huy. Sư đoàn 2, hay Trung tâm, do Tướng von Wartensleben chỉ huy. Sư đoàn 3 hay Cánh trái cũng là Binh đoàn Tiên phong và được chỉ huy bởi Tướng von Schmettau khi bắt đầu trận chiến. Anh ta bị thương từ rất sớm và tham mưu trưởng Scharnhorst của Brunswick nắm quyền chỉ huy. Quân đoàn Dự bị, dưới quyền của Tướng Bá tước von Kalkreuth, được chia thành hai sư đoàn dự bị, Sư đoàn Dự bị số 1 dưới quyền của Graf von Kuhnheim và Sư đoàn Dự bị số 2 dưới quyền của Tướng von Arnim. Cuối cùng, Tướng Blücher có quyền chỉ huy Sư đoàn Cận vệ Tiền phương, được tạo thành phần lớn từ các binh sĩ hạng nhẹ.

Chiến trường

Trận chiến diễn ra trên vùng đất đồi ở phía tây sông Saale. Con sông có một vách đá dốc đứng có cây cối rậm rạp ở bờ phía tây. Ở Kösen có một cây cầu đá bắc qua sông Saale. Sau đó, con đường leo lên đèo dốc Kösen, con đường leo lên vách đá đó, để lên đến đỉnh cao nguyên. Từ đó nó chạy về phía tây đến cao nguyên Hassenhausen trước khi đến ngôi làng cùng tên. Con đường sau đó đổ xuống một con dốc thoải để đến các làng Tauchwitz và Poppel (nằm sát nhau trong một thung lũng nông). Từ đó, con đường chạy theo hướng tây nam đến Gernstedt, sau đó tiếp tục đi theo hướng giống như khi nó đổ xuống Auerstädt, trên Sông Emsen.

Trận chiến

Vào đêm 13 - 14 tháng 10, quân Phổ đóng trại xung quanh Auerstädt và quân Pháp ở Naumburg, với lực lượng bảo vệ trước tại Kosen, nơi họ chiếm con đèo phía tây làng. Cả hai bên đều biết rằng đối phương đang ở gần, nhưng họ phản ứng theo những cách khác nhau. Davout đã chuẩn bị sẵn sàng để tiến lên con đường và xem những gì anh ta tìm thấy. Brunswick, lo sợ rằng Napoléon có mặt trực tiếp, quyết định chuyển đến Hassenhausen và sau đó cố gắng chạy trốn về phía bắc mà không đánh một trận chiến nào.

Các cuộc di chuyển mở màn vào ngày 14 tháng 10 diễn ra trong sương mù. Do đó, không bên nào hoàn toàn chắc chắn bên kia đang ở đâu. Sư đoàn 3 của Gudin bắt đầu di chuyển vào khoảng 4 giờ sáng, với đường 25 đi đầu là bộ binh và một màn hình kỵ binh phía trước. Đến 7 giờ sáng, kỵ binh dẫn đầu của Pháp đã tiếp cận Poppel và bộ binh áp sát Hassenhausen.

Quân Phổ cũng đang di chuyển. Họ rời Auerstädt vào khoảng 6 giờ sáng, và tiến từ Auerstädt về phía Poppel. Vào khoảng 7 giờ tối, kỵ binh Pháp đụng độ một số quân lính Phổ tại Poppel. Quân Pháp buộc phải lùi về phía bộ binh của họ. Gudin đã tạo thành hình vuông để đề phòng, và điều này đã được đền đáp vài phút sau đó khi kỵ binh Phổ đang truy đuổi đến nơi. Quân Phổ bị đẩy lui. Davout ra lệnh cho Gudin chiếm Hassenhausen và sau đó tiến về phía tây đến thung lũng dẫn đến Poppel (Lissbach).

Tại thời điểm này, sương mù đã bốc lên. Gudin có thể thấy rằng anh ta đã phải đối mặt với mười phi đội kỵ binh (tạm thời do Blucher chỉ huy). Pháo binh Pháp nổ súng, đánh bật pháo ngựa Phổ. Blücher buộc phải rút lui và chờ bộ binh. Cả hai bên đều phải vật lộn để đưa thêm quân đến chiến trường. Về phía Phổ, sư đoàn của Schmettau, với 9 tiểu đoàn, đến vào khoảng 8 giờ sáng. Về phía Pháp, Sư đoàn 2 của Friant đang băng qua cầu Saale và Sư đoàn 1 của Morand ở phía sau xa hơn.

Quân Phổ đông hơn quân của Gudin, nhưng họ đã thất bại trong việc phối hợp tấn công. Kỵ binh của Blücher tấn công trước và bị đẩy lui bởi quân Pháp, những người đã hình thành các ô vuông tại Hassenhausen. Bộ binh sau đó tiến về làng, nhưng sau đó tạm dừng để Wartensleben có thời gian đến và triển khai bên phải quân Phổ. Sự chậm trễ này đã cho quân Pháp thời gian để di chuyển sư đoàn của Friant vào hàng ngũ. Ông được đăng trên quyền của Pháp để đề phòng kỵ binh của Blücher. Davout dự kiến ​​cuộc tấn công chính của quân Phổ sẽ đến ở phía bắc và vì vậy cánh phải của ông là cánh mạnh nhất của ông.

Vào khoảng 10 giờ sáng, quân Phổ cuối cùng đã phát động một cuộc tấn công lớn, với Schmettau ở bên trái và Wartensleben ở bên phải. Cuộc tấn công của Schmettau không thành công, nhưng Wartensleben thành công hơn, định tuyến cho Đường số 85 của Pháp. Davout đã có thể khôi phục tình hình, nhưng tất cả quân số hiện có của anh ta giờ đã ở tiền tuyến. Một bộ phận vẫn đang đến, và anh hy vọng nhận được sự giúp đỡ từ Bernadotte.

Quân Phổ đã có một cơ hội ngắn ngủi để tấn công cánh trái của quân Pháp trong khi quân Pháp vẫn còn sơ hở, nhưng thay vào đó họ chọn tấn công vào trung tâm, nơi hàng loạt cuộc tấn công đã bị đẩy lui. Tại thời điểm này, bộ chỉ huy cấp cao của Phổ đã phải hứng chịu một loạt đòn. Schmettau bị thương trong khi tham mưu trưởng của Brunswick, Scharnhorst, đang thăm sư đoàn của mình. Vì vậy, Scharnhorst đã rời xa chỉ huy tối cao khi Công tước xứ Brunswick bị trọng thương. Cố vấn quân sự cấp cao của Frederick William, Thống chế lớn tuổi Mollendorf (một cựu chiến binh trong Chiến tranh Bảy năm), cũng sớm không hoạt động. Nhà vua quyết định tự mình chỉ huy quân đội của mình, nhưng ông đã tỏ ra là một người chỉ huy kém hiệu quả. Tại thời điểm này, chưa đến một nửa quân đội Phổ đã bị tấn công, trong khi quân Pháp vẫn còn một sư đoàn mới.

Cả hai bên đều nhận được quân tiếp viện trước trận giao tranh lớn tiếp theo. Về phía Pháp, Morand đến và được xếp vào bên trái của Pháp. Về phía Phổ, Hoàng tử Orange đã đến, nhưng bộ phận của ông đã bị chia rẽ. Một lữ đoàn được điều động sang bên trái trong khi phần còn lại của sư đoàn được điều về phía nam để lấp các khoảng trống trong phòng tuyến. Cả hai bên lúc này đã có ba sư đoàn bộ binh trong tuyến của họ. Quân Phổ có nhiều kỵ binh hơn, quân Pháp có thế trận tốt hơn và dẫn quân tốt hơn. Những toán quân này đến sân vào khoảng 11 giờ sáng.

Người của Morand đã thắng trận một cách hiệu quả. Đầu tiên, họ đã giúp đánh bại một cuộc tấn công của bộ binh Phổ vào trung tâm của Pháp. Tiếp theo, họ xếp thành các ô vuông và đẩy lui năm cuộc tấn công của ba mươi phi đội bộ binh Phổ. Cuối cùng họ dàn thành từng cột và đẩy lùi bộ binh Phổ vào thung lũng Lissbach (phía tây Hassenhausen). Cuộc tấn công này đã phá vỡ tinh thần của sư đoàn Wartensleben, bây giờ bắt đầu bỏ chạy khỏi chiến trường.

Tại thời điểm này, quân Phổ vẫn còn mười bốn tiểu đoàn bộ binh, năm phi đoàn kỵ binh và ba khẩu đội pháo binh mà họ chưa sử dụng và một cuộc tấn công khéo léo có thể đã cứu được một ngày. Điều này không xảy ra - Frederick William tin rằng ông đang trực tiếp đối mặt với Napoléon, và từ chối xem xét phát động một cuộc tấn công khác.

Thay vào đó, vai trò đó được thực hiện bởi Davout. Mặc dù bị đông hơn, vào khoảng giữa trưa, quân Pháp đã mở cuộc tổng tấn công dọc theo phòng tuyến của họ, với hai sư đoàn ở hai bên sườn trước sư đoàn trung tâm theo đội hình lưỡi liềm. Phía bên phải của Pháp, Friant gặp phải sự kháng cự quyết liệt tại Poppel nhưng cuối cùng đã chiếm được ngôi làng và 1.000 tù nhân. Bên trái Morand tiếp tục phong độ mạnh mẽ của mình. Quân Phổ buộc phải quay trở lại Rehausen, phía nam Poppel và quân Pháp sau đó chiếm Đồi Sonnekuppe, một vị trí thống trị. Pháo binh Pháp đã dồn dập quân Phổ ngay từ vùng đất cao này và quân Phổ bắt đầu rút lui.

Blücher đã cố gắng tạo ra một hậu phương và cố gắng giữ chân quân Pháp đang tiến lên. Sư đoàn của Gudin, đã trực chiến cả ngày, đã mở cuộc tấn công trực diện vào chướng ngại vật cuối cùng này, trong khi hai sư đoàn khác của Pháp tấn công vào hai bên sườn của nó. Người Pháp tiếp tục dồn ép quân Phổ cho đến khoảng 4h30 khi cuối cùng họ dừng lại trên đỉnh cao nhìn ra Auerstädt.

Hậu quả và Kết luận

Quân Phổ có lẽ mất 15.000 người chết và bị thương trong trận chiến cùng với 3.000 tù binh và 57 khẩu súng trường. Họ rời chiến trường như một lực lượng gắn kết, nhưng điều này không kéo dài quá lâu. Cuộc rút lui có tổ chức khỏi Auerstädt gặp phải những người sống sót vô tổ chức của Jena, và quân đội mất nhiều tổ chức. Davout báo cáo đã mất 258 sĩ quan và 6.794 lính bị thương hoặc thiệt mạng, trong đó sư đoàn của Gudin bị thiệt hại nặng nề nhất.

Davout đã giành được một trong những chiến thắng đáng chú ý nhất của Chiến tranh Napoléon, không chỉ giữ vị trí của mình, mà còn gây ra một thất bại đáng kể mặc dù bị đông hơn hai chọi một. Khi tin tức đến với Napoléon tại Jena vào cuối ngày, ông ban đầu từ chối tin các báo cáo, nhưng cuối cùng phải thừa nhận rằng cấp dưới của ông đã chiến đấu trong trận chiến lớn hơn trong ngày. Trong Bản tin thứ Năm của Grand Armée, được đưa ra vào ngày sau trận chiến, Napoléon tuyên bố rằng 'Ở bên phải của chúng tôi, quân đoàn của Thống chế Davout đã thực hiện những điều kỳ diệu. Anh ta không chỉ ngăn chặn, mà còn đẩy lùi, và đánh bại, trong hơn ba giải đấu, phần lớn quân đội của kẻ thù, sẽ tàn phá Kosen '. Đây là lời khen ngợi hoàn toàn dành cho Napoléon, và cho thấy món nợ mà ông đã mắc phải đối với Davout. Nếu Davout không giành chiến thắng trong trận chiến tại Auerstadt, phần lớn quân đội Phổ sẽ trốn thoát nguyên vẹn, và chiến thắng của riêng Napoléon tại Jena sẽ mất đi phần lớn ý nghĩa của nó.

Trong hai tuần tiếp theo, Napoléon đã quét sạch phần còn lại của quân đội Phổ. Berlin đã bị chiếm đóng và một số pháo đài cuối cùng ở phía tây Oder đầu hàng. Chỉ có nhà vua trốn thoát khỏi anh ta, chạy trốn vào Ba Lan bị Phổ chiếm đóng. Cuộc chiến của Liên minh thứ tư sắp bước vào một giai đoạn khó khăn hơn đối với người Pháp khi họ xâm lược Ba Lan lần đầu tiên.

Trang chủ của Napoléon | Sách về Chiến tranh Napoléon | Mục lục chủ đề: Các cuộc chiến tranh Napoléon


Trận chiến song sinh của Jena và Auerstedt, ngày 14 tháng 10 năm 1806

Dòng thời gian này là một phần của cận cảnh về: chiến dịch PhổNapoléon & # 8217s vào Berlin, ngày 27 tháng 10 năm 1806.

Cuối tháng 10 / đầu tháng 11: Frederick William III, vua của Phổ và Alexander, Sa hoàng của Nga gặp nhau. Chữ ký của cái gọi là & # 8220 Mối đe dọa của Potsdam & # 8221, một hiệp định (bí mật) mà theo đó Phổ sẽ đưa ra một tối hậu thư cho Napoléon: Pháp phải quay trở lại những gì đã thỏa thuận tại Lunéville, nếu không Phổ sẽ gia nhập các đồng minh của Liên minh thứ ba.

14 tháng 11: Nhà ngoại giao Phổ, Haugwitz, rời Berlin đến gặp Napoléon để đưa ra tối hậu thư.

28 tháng 11 (7 Frimaire): Haugwitz cuối cùng đã được cấp quyền truy cập vào Napleon (lúc đó đang ở Brünn để chuẩn bị đầy đủ cho trận chiến đang đến gần). Tuy nhiên, người Phổ không đưa ra một tối hậu thư mà là một bức thư của nhà vua. Napoléon cho rằng Phổ vẫn chưa quyết định ủng hộ phe nào. Do đó, ông cử Haugwitz đến Vienna để tiếp tục đàm phán với Talleyrand.

2 tháng 12 (11 Frimaire): Chiến thắng của Napoléon & # 8217s tại Austerlitz. Hoàng đế hiện đang ở một vị trí vững chắc để đạt được & # 8220 hòa bình vinh quang & # 8221 của mình.

3 tháng 12 (12 Frimaire): Cuộc gặp gỡ giữa Alexander I và Francis II.

4 tháng 12 (13 Frimaire)
Cuộc gặp gỡ giữa Napoléon và Francis II.

6 tháng 12 (15 Frimaire)
Chữ ký của hiệp định đình chiến với Áo.

10-12 tháng mười hai (19-21 Frimaire): Chữ ký của Hiệp ước Brünn.

10 tháng 12: Pháp đã ký một hiệp ước với Bavaria theo đó, như một phần thưởng cho sự ủng hộ của cô, có thêm lãnh thổ và trở thành & # 8216kingdom & # 8217.

11 và 12 tháng 12: Pháp đã ký một hiệp ước tương tự với các chủ quyền của Wurtemberg và Baden, người trước đây nhận được vương miện hoàng gia, người sau là phẩm giá của Đại công tước. Napoléon đang bắt đầu hệ thống liên minh và quyền kiểm soát của mình đối với nước Đức thứ ba (nước Đức nằm giữa Phổ và Áo).

15 tháng 12 (24 Frimaire): Chữ ký ở Schönbrunn của liên minh phòng thủ và tấn công Pháp-Phổ tỷ lệ bài phát biểu phụ (nghĩa là, với hy vọng liên minh sẽ được vua Phổ phê chuẩn): Phổ phải nhượng Neuchâtel, Bayreuth và Ansbach và nhận Hanover, trên thực tế là thuộc sở hữu của Anh nhưng bị quân Pháp chiếm đóng. Bởi đợi đến sau Austerlitz, Phổ đã bỏ lỡ cơ hội đưa ra tối hậu thư của mình. Và vì thế, ở thế yếu trước Pháp, Phổ không lấy Hanover mà nhận nó như một món quà từ một bên thứ ba.

26 tháng 12 (5 Nivôse): Hiệp ước Pressburg giữa Pháp và Áo: bằng cách nhượng nhiều lãnh thổ trong vương quốc Ý, và giao các lãnh thổ cho Bavaria, Württemberg, Baden và Pháp, Nhà Áo đã bị suy yếu rất nhiều về ảnh hưởng của bà đối với Italia và Đức.

3 tháng 1: Napoléon tiếp tục chính sách mở rộng ảnh hưởng của mình đối với nước Đức thứ ba bằng cách ký kết một liên minh hôn nhân với Bavaria, kết hôn với 14 tháng 1 con riêng của ông ấy và phó vương của Ý, Eugène de Beauharnais, đến Augusta, con gái của vua Bavaria. Trên 8 tháng 4, hoàng hậu Josephine & cháu gái # 8217s, Stéphanie de Beauharnais, kết hôn với thái tử của Baden. Tại Berlin, Hội đồng Nhà nước đã họp để thảo luận về Hiệp ước Schönbrunn và sửa đổi nó - nhà vua đã gạch bỏ các từ & # 8220 liên minh tấn công / tấn công & # 8221 thay thế chúng đơn giản bằng & # 8220alliance & # 8221.

14 tháng 1: Haugwitz rời Berlin đến Paris để hoàn tất cuộc đàm phán.

23 tháng 1: Ở Anh, về cái chết của William Pitt «trẻ hơn», William Wyndham Grenville lãnh đạo chính phủ mới, với Charles James Fox (người có tiếng là thân Pháp) làm Bộ trưởng Ngoại giao.

24 tháng 1: Tổng rút lui và giải ngũ quân Phổ, đặc biệt là xung quanh Wurtzburg.

26 tháng 1: Napoléon trở lại Paris.

9 tháng 2: Napoléon cho Haugwitz ra mắt khán giả, nhưng đối xử với anh ta một cách lạnh lùng, cách chức anh ta một cách phũ phàng khi nghe tin quân Phổ đã chiếm được thành phố Hanover.

15 tháng 2: Một hiệp ước mới được trình bày cho Haugwitz. Một số điều khoản của hiệp ước ngày 15 tháng 12 năm 1805 được lặp lại nhưng những áp đặt khác bao gồm: rằng Phổ nhượng lại pháo đài quan trọng về mặt chiến lược tại Wesel: rằng nước này nên đóng các cảng của mình cho hàng hóa đến từ Anh và nên tuyên chiến với Anh. Hiệp ước này đã được Frederick William III phê chuẩn trên 26 tháng 2.

22 tháng 2: Đóng cửa các cảng của Pháp đối với hàng hóa đến từ Anh.

6 tháng 3: Với tinh thần cởi mở và kiên định, Fox gửi một lá thư cho Talleyrand, thông báo cho anh ta rằng một Guillet de La Gebrillière (bị bắt nhưng sau đó được thả ở Anh) đang lên kế hoạch ám sát Napoléon.

27 tháng 3: Phổ đóng cửa các cảng của mình đối với hàng hóa từ Anh.

30 tháng 3: & # 8220Acte des Tuileries & # 8221 chính thức công bố Joseph, vua của Naples và của Sicily.

1 Tháng 4: Talleyrand trả lời có lợi cho Fox, đề xuất một cuộc họp của các đại diện toàn quyền.

8 tháng 4: Theo các thỏa thuận trước đây giữa Anh và Nga, Fox đề nghị với Talleyrand rằng Nga nên tham gia vào các cuộc thảo luận hòa bình giữa Pháp và Anh.

11 tháng 5: Anh tuyên chiến với Phổ.

23 tháng 5: Sớm trở thành đặc mệnh toàn quyền của Anh, Lord Seymour, Bá tước Yarmouth, một tù nhân chiến tranh ở Amiens, đã được giải phóng theo sắc lệnh của hoàng gia để anh ta có thể lãnh đạo parley.

24 tháng 5: Hiệp ước được ký kết tạo ra vương quốc Hà Lan, do đó thay thế cho République Batave trước đó.

5 tháng 6: Napoléon xưng anh trai Louis Bonaparte làm vua của Hà Lan.

6 tháng 6: Napoléon tiếp tân đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ, Mouhib Effendi. Do đó, quan hệ ngoại giao giữa Pháp và Sublime Porte đã được kích hoạt trở lại, Napoléon hy vọng rằng Thổ Nhĩ Kỳ sẽ hành động như một đoạn tuyệt với Nga.

14 tháng sáu: Đến Paris của Lord Seymour, Bá tước Yarmouth, đặc mệnh toàn quyền của Anh (ông đã trở về Anh để nhận bằng sáng chế thư của mình). Anh ấy mang theo đề xuất hòa bình của chính phủ Anh & # 8217s.

1 tháng 7: Phổ ký hiệp ước liên minh với Nga.

8 tháng 7: Sau hai tháng ở Vienna thảo luận với các đại sứ Pháp và Anh lần lượt, đại sứ Nga, Oubril, đã đến Paris để dẫn đầu các cuộc đàm phán về phía Nga. Tại Nga, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Czartoryski, đã đề nghị từ chức để được thay thế bằng Nam tước Budberg.

11 tháng 7: Để duy trì cuộc đàm phán trên đường ray, Talleyrand nói với Napoleon (không trung thực) rằng Yarmouth đang mong đợi sự cho phép từ Fox để trao Sicily cho Pháp (muốn cho vương quốc Naples của Joseph & # 8217s). Khi bắt đầu cuộc đàm phán, Anh từ chối thảo luận về việc mua lại Sicily.

12 tháng 7: Chữ ký của Hiệp ước Paris, mang lại sự ra đời của Liên minh sông Rhine (Rheinbund). Hiệp ước đã được phê chuẩn bởi Napoléon và những người ký kết khác trên 19 tháng bảy.

21 tháng bảy: Bất chấp thỏa thuận Nga-Anh cùng nhau đàm phán, Oubril đã được dẫn đầu bởi tướng Clarke (người đã thay thế Talleyrand) để ký một hiệp ước hòa bình Pháp-Nga. Tuy nhiên, Oubril nhận thức rõ rằng anh đã vượt quá chỉ dẫn của mình.

31 tháng bảy: Chính phủ Anh cử một nhà đàm phán vững chắc hơn dưới hình dạng của Lord Lauderdale, để hỗ trợ Yarmouth. Cho rằng đặc phái viên Nga Oubril đã ký một hiệp ước riêng với Pháp (đề nghị Sicily), để không xảy ra bất trắc, phái viên Anh đã mang theo một phiên bản mới của hiệp ước hòa bình Pháp-Anh. Các nhượng bộ trong hiệp ước mới là: gia đình trị vì Sicily phải được tìm thấy các lãnh thổ khác và các khoản bồi thường mà Anh sẽ chấp nhận không chỉ danh hiệu hoàng đế Pháp & # 8217s mà còn cả những người khác được đề cử hoặc thăng cấp bởi Napoléon (vì vậy Sicily có thể được lấy của Pháp) rằng tất cả các lợi ích của Pháp & # 8217s kể từ năm 1797 sẽ được tôn trọng rằng nhà Bourbon sẽ bị giáng xuống Scotland hoặc Ireland mà bất kỳ nhà lãnh đạo Chouan nào được Pháp đề cử sẽ được vận chuyển đến Canada. Điều này đã bị Napoléon bác bỏ vì nó (theo cách nói của ông) & # 8220 chưa hoàn toàn trưởng thành. & # 8221

1 tháng Tám: Các thành viên của Liên minh miền sông Rhine tuyên bố rằng họ không còn thành lập một phần của Đế chế La Mã Thần thánh.

6 tháng 8: Francis II từ bỏ danh hiệu Hoàng đế La Mã Thần thánh của mình.

9 tháng 8: Động viên quân Phổ.

25 tháng 8: Theo lệnh của Napoléon & # 8217s, Palm, người bán sách ở thành phố tự do Nuremberg bị hành quyết vì đã phân phát một tập sách nhỏ khuyến khích quân Đức chống lại Napoléon. Bắt đầu công việc trên chuyên mục Vendôme.

3 tháng 9: Napoléon biết được việc Nga từ chối phê chuẩn hiệp ước hòa bình. Trong một bức thư gửi cho anh trai mình, Joseph, cùng ngày, hoàng đế nói rằng ông nghĩ rằng việc không phê chuẩn là do sự thay đổi của các bộ trưởng ở Nga. Trong cùng một bức thư, ông lưu ý rằng hoàng đế Nga, Alexander, chỉ đưa ra một lý do: rằng ông sẽ không ký nếu không có Anh.

9 tháng 9: Công ước hôn nhân được ký kết giữa Pháp và Wurtemberg, liên quan đến đám cưới của Jérôme BonaparteCatherine de Wurtemberg (buổi lễ đã được cử hành vào 22 tháng 8, 1807).

12 tháng 9: Quân Phổ xâm lược Sachsen để buộc cô tham gia vào cuộc chiến chống Pháp sắp tới. Người Saxon là đội quân duy nhất chiến đấu cùng với Phổ tại Jena.

13 tháng 9: Cái chết của Ngoại trưởng Anh Fox, được thay thế bởi Grey.
Napoléon đã ra lệnh Berthier đi đến Wurzburg (chứ không phải Bamberg), đưa ra mệnh lệnh tương tự cho quân đoàn do Ney, AugereauDavout.

20 tháng 9: Napoléon kêu gọi các đồng minh của mình trong Liên minh sông Rhine.

25 tháng 9: Napoléon rời Paris để gia nhập Grande Armée.

28 tháng 9: Napoléon đến Mainz.

1 tháng 10: Đại sứ Phổ Knobelsdorf đưa cho Talleyrand một bức thư của Frederick William III cho Napoléon, trong đó có tối hậu thư của Phổ & # 8217s: Quân đội Pháp nên rút lui khỏi sông Rhine và Liên minh sông Rhine nên bị giải thể.

2 tháng 10: Napoléon đến Wurtzburg, nơi ông gặp các hoàng tử Đức.

4 tháng 10: Sau một tháng đàm phán, Lauderdale trình các nhà đàm phán Pháp một hiệp ước mới. Sicily không còn trên bàn và giọng điệu chung kém hòa giải hơn nhiều, chắc chắn rằng người Nga đã từ chối đối phó. Nhận thức rõ rằng đề xuất của mình sẽ không được chấp nhận, Lauderdale đã yêu cầu hộ chiếu của mình và rời Pháp vào 9 tháng 10, các cuộc đàm phán không đi đến kết quả gì.

7 tháng 10: Napoléon biết được tối hậu thư của Phổ. Vào một ngày trước khi tối hậu thư của Phổ có hiệu lực, Grande Armée lên đường đến Berlin.

8-11 tháng 10: Lính Pháp băng qua các thung lũng ở Frankenwald.

8 tháng 10: Cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa quân Pháp và quân Phổ tại Saalberg.

9 tháng 10: Tại Schleiz, & gtMuratKị binh & # 8216s, được hỗ trợ bởi sư đoàn 3 của BernadotteQuân đoàn & # 8216, đánh bại một đội quân Phổ và Saxon do Tauentzien. 400 người Phổ / Saxon bị giết hoặc bị bắt.

10 tháng 10: Thất bại của Phổ tại Saalfeld, được đánh dấu bằng cái chết của Hoàng tử Louis, anh họ của Frederick William III. Đánh chiếm Leipzig bởi LannesSuchet.

14 tháng 10: Chiến thắng kép của Pháp, Napoléon tại Jena, và Davout tại Auerstedt.

15 tháng 10: Vua Frederick William viết thư cho Napoléon yêu cầu các điều kiện hòa bình.

16 tháng 10: Sự đầu hàng của Phổ tại Erfurt trước Murat.

17 tháng 10: Phổ thất bại tại Halle trước Bernadotte.

22 tháng 10: Cuộc gặp gỡ giữa sứ thần nước Phổ Lucchesini và một Napoléon không ngoan cố.

23 tháng 10: Napoléon tịch thu các lãnh thổ của người Phổ ở giữa sông Rhine và sông Elbe, các bang thuộc về công tước Brunswick, Hanover và lãnh thổ xung quanh Osnabruck, phong cho Đông Friesland làm vua của Hà Lan. Các khu vực bầu cử của Sachsen và công quốc Hesse-Cassel được đặt dưới sự quản lý của Pháp.

24 tháng 10: Sự đầu hàng của Phổ tại Potsdam

25 tháng 10: Spandau đầu hàng trước Lannes

26 tháng 10: Quân đoàn của Davout & # 8217 tiến vào Berlin, trong khi Lasalle và Grouchy lấy Zehdenick.
Napoléon thiền định trước lăng mộ của Frederick Đại đế.

27 tháng 10: Napoléon vào Berlin.

28 tháng 10: Hohenlohe đóng đô tại Prenzlau.

30 tháng 10: Stettin đầu hàng trước tướng Lasalle & đội kỵ binh # 8217s.

3 tháng 11: Napoléon phát biểu một tuyên ngôn với người Ba Lan mời họ vùng dậy.

7 tháng 11: Blücher đóng đô tại Lübeck trước Bernadotte.

8 tháng 11: Thủ đô Magdebourg trước Ney.

16 tháng 11: Chữ ký của hiệp định đình chiến Pháp-Phổ, không được Frederick William phê chuẩn. Thứ 32 Bulletin de la Grande Armée thông báo kết thúc chiến dịch Phổ.


Trận chiến Jena-Auerstädt: 14 tháng 10 năm 1806

Trận Jena-Auerstädt diễn ra ở Đức vào năm 1806 giữa Quân đội Đế quốc Pháp và Quân đội Hoàng gia Phổ. Nó thực sự là hai trận chiến riêng biệt cách nhau khoảng hai mươi dặm. Cả quân đội Pháp và Phổ bị chia rẽ dẫn đến hai cuộc giao tranh riêng rẽ, một do Napoléon chiến đấu và Davout chỉ huy Quân đoàn Pháp tại Auerstädt. Trận chiến tại Jena là trận chiến lớn hơn trong số hai trận chiến nếu có liên quan đến các lực lượng liên quan nhưng hành động tại Auerstädt về mặt hoạt động mang tính quyết định hơn. Kết hợp lại, quân Phổ phải chịu một thất bại nặng nề mà họ không thể phục hồi và dẫn đến sự đầu hàng ảo của vương quốc khi đối mặt với yêu cầu của Napoléon tại Tilsit hơn ba tháng sau đó. Đơn giản hơn là xem xét hai cuộc giao tranh riêng rẽ và sau đó nói về cách mà hai trận thua đã ảnh hưởng đến quân Phổ và Pháp. Một trong những điều quan trọng của trận chiến là động lực cải cách được trao cho người Phổ sau thất bại của họ. Họ tham chiến chống lại Napoléon vào năm 1805 với một đội quân về cơ bản không thay đổi về cấu trúc và học thuyết so với đội quân mà Frederick II đã sử dụng năm mươi năm trước trong cuộc xâm lược Silesia và Chiến tranh Bảy năm.

Địa điểm tương đối của các cuộc giao tranh vào ngày 14 tháng 10 năm 1806

Tôi sẽ thảo luận về Trận chiến tại Jena để bắt đầu. Không chỉ có nhiều lực lượng hơn tham gia ở đó, đó là nơi Napoléon chỉ huy. Một số nguồn cho rằng Napoléon đã thể hiện sự sáng chói điển hình của mình tại Jena, tôi không chắc lắm. Cuộc giao tranh tại Jena bắt đầu từ sáng sớm và kéo dài đến tận buổi chiều. Quân Phổ đẩy mạnh các cuộc tấn công về nhà nhưng họ liên tục bị pháo binh Pháp ném trả. Quân Phổ cũng phải hứng chịu hậu quả của hỏa lực từ các cuộc giao tranh của Pháp.1 Thời điểm quyết định tại Jena là khi một số chỉ huy của quân Phổ bị giết hoặc bị thương. Điều này dẫn đến sự sụp đổ của sườn đó và sau đó tất cả đã kết thúc ngoại trừ tiếng khóc như câu nói đó. Người Pháp đã tạo được lợi thế của mình và điều này dẫn đến việc quân Phổ phải rút lui dọc theo mặt trận của họ và nhanh chóng bắt đầu giống như một cuộc hành quân, đặc biệt là khi kỵ binh Pháp bắt đầu tấn công và truy đuổi quân Phổ đang rút lui.

Trận chiến tại Auerstädt cách trận chiến chính tại Jena 12 km về phía bắc là một chuyện hơi khác nhưng kết quả cuối cùng thì giống nhau. Tại Auerstädt, quân Phổ thực sự có ưu thế về quân số và có lẽ đã tránh được thất bại hoàn toàn nếu các chỉ huy cấp cao của họ thực sự làm việc cùng nhau thay vì vì mục đích chéo. Marshall Davout chỉ huy quân Pháp và ông đã xử lý quân của mình cực kỳ tốt. Ông cũng được hỗ trợ bởi sự thống nhất tổng thể của các chỉ huy trong quân đội Pháp. Davout đã giành được một chiến thắng trong phòng thủ và sau đó tiếp theo là một cuộc tấn công vào cuối ngày khiến quân đội Phổ về cơ bản phải định hướng và rời sân trong vội vàng.

Quân đội Phổ đã bị tiêu diệt khá nhiều trong vai trò lực lượng chiến đấu sau Jena-Auerstädt. Theo đúng nghĩa đen, quân Pháp đã theo đuổi Phổ trong hai tháng tiếp theo khi tàn dư của quân Phổ đã chiến đấu với một số hành động trì hoãn nhỏ khi phần lớn quân đội cố gắng chạy trốn về phía đông và an toàn ở Nga cùng với vua Phổ. Sự hủy diệt đó, cây đũa phép sau đó loại bỏ Phổ khỏi Liên minh thứ hai là hiệu quả lớn nhất của trận chiến. Hậu quả lâu dài là Phổ đã cải tổ đáng kể quân đội của họ và chưa đầy bảy năm sau đã ở vị trí đóng vai trò quan trọng trong liên minh cuối cùng đánh bại napoleon cả trong chiến dịch năm 1813 và một lần nữa tại Waterloo vào cuối Trăm ngày.

Bạn có thể tìm thấy một nguồn thông tin hữu ích với hướng dẫn lái xe nếu bạn tình cờ đến thăm chiến trường tại www.Napoleon.org

Một trong những ngày này, tôi sẽ thực sự dành thời gian để lái xe một tiếng rưỡi từ nhà tôi đến chiến trường và thực hiện một phân tích chuyên sâu với các bức ảnh. Tuy nhiên, giống như mọi thứ khác, tôi bị cản trở bởi thời gian. Khi thực hiện, tôi chắc chắn sẽ đăng bản cập nhật cho phân tích chiến lược / hoạt động tương đối rộng được trình bày ở đây. My real love is the tactical side of military history anyway.

1. Cark, Christopher, Iron Kingdom: The Rise and Downfall of Prussia, 1600-1947. Cambridge, MA: Belknap Press 2006. 296-298


Battle of Jena [ edit | chỉnh sửa nguồn]

Situation – 10 a.m., October 14

Planning [ edit | chỉnh sửa nguồn]

Prussia's main weakness in 1806 was a very weak high command structure that included command positions being held by multiple officers. One such example is the position of Chief of Staff, held by three different officers, General Phull (or Pfuel), Colonel Gerhard von Scharnhorst and Colonel Rudolf Massenbach. This confusing system led to delays and complexities that resulted in over a month's delay before the final order of battle was prepared. The Prussian army was divided into three armies drawn from across Prussia. Another obstacle facing the Prussians was the creation of a unified plan of battle. Five main plans emerged for discussion however, protracted planning and deliberating shifted the initiative to the French. Thus, the Prussian plans became mere reactions to Napoleon's movements.

Although Prussia had begun its mobilization almost a month before France, Napoleon had kept a high state of readiness after the Russian refusal to accept the peace from the Third Coalition. Napoleon conceived a plan to force Prussia into a decisive battle, like Austerlitz, and pre-empt the Prussian offensive. Napoleon had a major portion of his Grande Armée in position in present day Baden-Württemberg in southwest Germany, and thus decided on a northeast advance into Saxony and onto Berlin.

The Battle of Jena [ edit | chỉnh sửa nguồn]

Detailed map of the Battle of Jena

The battle commenced on the morning of 14 October 1806, on the grassy fields near Jena. The first movements of the French Army were attacks on either flank of the Prussian lines. This gave the supporting armies (making up the central attack) time to get into position. These skirmishes had little decisive success save for a breakthrough by the French General Saint-Hilaire who attacked and isolated the Prussian left flank.

At this time, French Marshal Michel Ney had completed his maneuvers and had taken up position as ordered by Napoleon. However, once in position Ney decided to attack the Prussian line despite having no orders to do so. This proved to be an almost disastrous move. Ney's initial assault was a success, but he found himself overextended and under heavy fire from Prussian artillery. Recognizing this distressed salient, the Prussian general ordered a counterattack and enveloped Ney's forces Ney formed them into a square to protect all their flanks. Napoleon recognized the situation Ney was in and ordered Marshal Lannes to shift from the center of attack to help Ney. This action would leave the French center weak. However, Napoleon deployed his reserve Imperial Guard units to hold the French center until Ney could be rescued. This adaptability was one of Napoleon's greatest strengths. He kept his Imperial Guard under his direct command, and could order them to take positions depending on the situation that the battle presented him. This rescue worked and Ney's unit was able to retreat from the battle. Although the French were in a troubling situation at this moment, the Prussian commanders did not take the initiative to push at the French weaknesses. This would later be considered their undoing. The inactivity of the Prussian infantry left them open to artillery and light infantry fire. One Prussian general later wrote "the area around the entrance of the village was the scene of the most terrible blood-letting and slaughter".

Marshal Murat, the most famous of many daring and charismatic French cavalry commanders of the era, leads a charge during the battle.

It was at this time around one p.m. that Napoleon decided to make the decisive move. He ordered his flanks to push hard and try to break through the Prussian flanks and encircle the main center army, while the French center would try to crush the Prussian center. The attacks on the flanks proved to be a success and caused many of the Prussian divisions on the flanks to flee the battlefield. With its flanks broken, the Prussian army was forced to withdraw and Napoleon had won another battle. In total the Prussian army suffered 10,000 casualties, 15,000 prisoners of war taken and had lost 150 artillery guns.


Battle Notes

• Commander: Frederic
• 4 Command Cards & 2 Iron Will Counters
• Optional 2 Tactician Cards

8 2 1 1 3 1 2 1 4

French Army
• Commander: Davout
• 6 Command Cards
• Optional 5 Tactician Cards
• Move First

10 3 2 3 1 5

Chiến thắng
10 Banners

Quy tắc đặc biệt
• The two town hexes of Hassenhausen form a Temporary Majority Victory Banner Objective worth 2 Victory Banners for the side that occupies the absolute majority of these hexes at the start of the turn. The Prussians start the battle occupying of the majority and start the battle with 2 Victory Banners (Temporary Majority Victory Banner Turn Start)

• The French player gains 2 Permanent Victory Banners for each Prussian leader eliminated from the battlefield.


Kết quả

Napoleon initially did not believe that Davout's single Corps had defeated the Prussian main body unaided, and responded to the first report by saying "Tell your Marshal he is seeing double", a reference to Davout's poor eyesight. As matters became clearer, however, the Emperor was unstinting in his praise. Bernadotte was severely censured and came within an ace of being dismissed on the spot — despite being within earshot of Auerstedt and within marching distance of Jena, he ignored his orders and did not participate in either battle. Davout was made Duke of Auerstedt. Lannes, the hero of Jena, was not so honored, possibly because Napoleon judged it best for reasons of prestige to keep the glory for himself.

On the Prussian side, Brunswick was mortally wounded at Auerstedt, and over the next few days the remaining forces were unable to mount any serious resistance to Murat's ruthless cavalry pursuit. In the Capitulation of Erfurt on 16 October, a large body of Prussian troops became prisoners with hardly a shot being fired. Bernadotte crushed Eugene Frederick Henry, Duke of Württemberg 's Prussian Reserve on the 17th in the Battle of Halle . Davout led his exhausted III Corps into Berlin on 25 October. Hohenlohe's force surrendered on 28 October after the Battle of Prenzlau , followed soon after by the Capitulation of Pasewalk . The French ran down and captured several small Prussian columns at Boldekow on 30 October, Anklam on 1 November, Wolgast on 3 November, and Wismar on 5 November. The corps of Blücher and Winning were destroyed at the Battle of Lübeck on 6 and 7 November. The Siege of Magdeburg ended on 11 November with Ney's capture of the fortress. Isolated Prussian resistance remained, but Napoleon's primary foe was now Russia, and the Battle of Eylau awaited.

Martin van Creveld has stated about the effects on command that: [ 1 ]


The Battle of Auerstadt

During Napoleon’s invasion of Saxony and Prussia in October 1806, both the Grande Armee and the Prussian Army were moving north on opposite banks of the Saale river. On 13 October 1806, Lannes V Corps came into contact with Prussian troops at Jena. Napoleon correctly concluded that the Prussian Army under King Frederick Wilhelm III and the Duke of Brunswick was to the west of the Saale River and ordered his corps to cross the Saale. Napoleon wished to bring the Prussian Army to battle on the Landgreffenburg, the plateau west of the Jena. Most of the Grande Armee crossed the river at Jena, but two of Napoleon’s corps, Davout’s III and Bernadotte’s I Corps, were to cross downstream at Koessen. From there, they were to surprise and strike the Prussian Army from the north.

Boldy falling upon the flank of Napoleon’s adversaries in battle after a long forced march was a task in which Davout was not a stranger. He executed the exact same mission with aplomb the previous year and assured the destruction of the Austrian and Russian armies at Austerlitz. If there was anyone in the Grande Armee that Napoleon could trust with such a difficult mission, it was Davout.

Louis-Nicholas Davout was born of minor French nobility from Burgundy. Despite his noble heritage, he survived the French Revolution when most of his peers were sent to the guillotine. A trained cavalryman, he thrived in the ranks of the French Revolutionary Army through unimpeachable integrity, uncompromising discipline, unmatched military skill, and frankly just being a bit ‘arder than his contemporaries. Davout didn’t look the part: he was prematurely balding and disdained the foppery of French officers. Davout had no time for anything that didn’t directly affect military efficacy. Napoleon, like most French senior officers, despised him at first meeting, mistaking Davout’s self-confident competence for arrogance, aloofness for pride, and utilitarian uniform for shabbiness. However, Napoleon quickly recognized that Davout was not one for the salon, but for the battlefield. When the Revolutionary government forced Davout out of the army due to his noble family, Napoleon overrode them and promoted him to general of division. He arranged Davout’s marriage to his sister in law, just to get him into the family. For these acts, Napoleon gained Davout’s undying loyalty. When Napoleon became emperor in 1804, Davout was one the few generals raised to Marshal of the Empire despite being the younger (34) than his contemporaries and one of the least experienced. He was one of the few Napoleonic commanders who saw the difference between “looting” and “foraging”, punished the former with death, correctly surmising that looting just slowed the columns down. For his tough and exacting training standards, moral incorruptibility, and unrelenting discipline, Davout quickly became known as the “Iron Marshal”.

Napoleon’s confidence in Davout was not misplaced though it would be tested during the invasion of Prussia. Davout was already passed Jena and was 15 km to the north when Lannes made contact there with the Prussian Army. The Grande Armee’s turn west put Davout’s III Corps on the far right but in a position to turn the Duke of Brunswick’s flank, if possible. To do so, III Corps would have to march north to cross the Saale at Koessen then turn south and take the Prussians from the flank and rear. Davout’s men would have to march all night to complete the 50 kms route. Come dawn on 14 October 1806, II Corps was making good time on the road from Koessen toward Auerstadt and Apolda to decisively affect the Battle of Jena.
However, Davout would never make it there. He and his 27.000 strong corps were marching southwest on the same road that the 70,000 strong Prussian main army was marching on northeast towards Leipzig. In the same dense fog that affected every movement at the Battle of Jena, neither side was aware of the other, but a clash was inevitable.

At the village of Hassenhausen, Davout sent his aide-de-camp Colonel Jean-Raymond-Charles Bourke with a detachment of light cavalry to assess the road ahead. They spotted Brunswick’s advanced guard, General-Lieutenant Gerhard von Blucher’s division of cavalry with the King of Prussia Frederick Wilhelm III at its head as if he were a Roman Consul riding in a triumph. About the same time, Prussian cavalry, considered at the time the best in the world, spotted Davout’s 3rd Division, under Gen Charles Gudin advancing on Hassenhausen. Blucher convinced Brunswick that he should immediately attack. The fog would allow his cavalry squadrons to surprise the French and defeat them before they could form squares. Blucher advanced with ten squadrons and brushed aside the Gudin’s screening light cavalry
Unfortunately for the Prussians, Bourke’s reconnaissance and Gudin’s retreating cavalry gave just enough warning for the veteran French infantry to form squares. In less than a minute, Gudin’s exposed columns were a patchwork of immobile bayonet tipped squares, and a minute after that surrounded by Prussian cavalry. A horse, no matter how well trained, won’t charge a wall of bayonets. The Prussians were reduced to riding past firing their pistols or attempting to slash their way through with sabers, all the while receiving volleys from the back ranks and canister from the guns at the corners. One square was broken up by dismounted dragoons and horse artillery but most of its inhabitants managed to withdraw to another square. The sole Prussian success of the engagement was the exception that proved the rule that mounted cavalry couldn’t break an established infantry square. Every time the cavalry reformed amidst the squares, they were hammered by French volleys. Blucher’s cavalry was forced to fall back. The massive casualties among the Prussian cavalry neutralized them for the rest of the battle.

The defeat of the feared Prussian cavalry skyrocketed the morale up and down Davout columns.

Brunswick orders his infantry forward to engage the French and closed with Gudin’s men. However, Gudin was in a strong position. His men occupied Hassesnhausen and turned it into a stronghold with defensive lines to the north of the village. More Prussian troops followed behind, but since Brunswick rode up and down the Prussian line inspiring his men, their officers couldn’t find him in the confusion of the battle. So they stopped and waited for instructions as to where to place their men in the line. Brunswick was forced to place them himself while the French filled in the line as needed. Furthermore, Gudin’s men in Hassenhausen had a better line of sight over the battlefield and could observe Prussian movement. The Prussians could not do the same.

Anchored on Hassenhausen, Gudin took on all comers but, even disorganized, the Prussian numbers began to be felt. Gudin had no troops to the south of the town and the Prussians were slowly enveloping the French left. Davout’s 2nd Division, under Gen Louis Friant formed his men to the right of Gudin and caused a panic among the Prussians as Brunswick was pushing the French left. However, the sight of French troops to the north of Gudin and French cavalry even further northwest, threatened his own left flank. Brunswick sent his highly capable chief of staff, Gehard von Scharnhorst, to sort out the north while he continued to individually place regiments in the south. Though the Prussians vastly outnumbered the French, Davout’s commanders were simply quicker to get into the line. Two thirds of Davout’s corps were fighting the Prussians while barely one third of Brunswick’s army was in the fight.

At 9:30 am, disaster struck the Prussians. The Duke of Brunswick was shot in the head and taken from the battlefield. The king took personal command. There was a reason Brunswick was in tactical and operational control of the army, King Frederick Wilhelm III was not an able military mind. He knew his limits, but with Brunswick mortally wounded he felt honor bound to take command. With Scharnhorst out of contact to the north, and the Brunswick’s subordinate commanders unwilling to step up and assist the king, paralysis wracked the Prussian Army.

Brunswick’s last commands were carried out and a massive Prussian force attempted to bypass the town to the south, but it was spotted from Hassenhausen and Davout diverted troops to block it. Nonetheless, by 11 am Davout’s two divisions were hard pressed. Morand’s division was still enroute and Bernadotte’s corps was nowhere to be seen. Because of his control of the commanding views from Hassenhausen, Davout knew he was facing the Prussian main army and accurate numbers of what he faced. He sent a report to Napoleon at Jena, who curtly told the Colonel Falcon, Davout’s aide and messenger, that “Your marshal is seeing double!”

The arrival of Morand’s 1st Division to the south of Hassenhausen around noon provided much needed relief for the Gudin in the town, then fighting on three sides.. The Prussians on the right were expecting to be reinforced from the Prussian reserve, 15,000 men under Count von Kalkreuth. However, one of Friant’s brigades along with Davout’s corps cavalry turned the Prussian right and seized the town of Poppeln, far behind the Prussian lines. In an army with outstanding division commanders, Davout trained his hardest, and Friant was by far his best. The Prussian line bent dangerously backwards under Friant’s relentless assault. Kalkreuth, with two fresh divisions at Auerstadt, but without orders, recognized the danger and decided to retake Poppeln instead of reinforcing the line. With the Prussian reserves occupied elsewhere, the sight of the fresh French troops of Morand’s division broke the Prussians opposite Hassesnhausen who had been fighting for nearly four straight hours without reprieve. Like Napoleon, the Prussian king thought he faced his adversary’s main army, so he ordered a withdrawal to reorganize his own army, identify a new commander, and fight at a better location.

Davout sensed the Prussian weakness and ordered all of his units to immediately attack. What began as a small trickle of Prussian troops fleeing to the rear became a flood. Any semblance of Prussian order dissolved in the narrow streets of Auerstadt. The Prussian retreat tuned into a rout as the king’s army encountered the remains of Hohelohe’s army fleeing west and north after being defeated by Napoleon at Jena. Only French exhaustion prevented Davout’s men from pursuing the Prussians. Not that it really mattered, even Prussian formations who had no contact with the French broke and fled for their lives.
That Davout did not show up to the Battle of Jena was one of the final indicators that Napoleon was not fighting Prussia’s main army. Bernadotte made the same mistake and instead of supporting Davout, turned around and headed toward Jena, missing both battles. It was rumored that Bernadotte deliberately chose not to support Davout who was clearly Napoleon’s favorite after the Battle of Austerlitz. A defeat for Davout at Austerlitz would have brought him down a notch and not affect Napoleon at Jena since Bernadotte could block any Prussian advance south. Whatever the case, Davout won a great victory against the odds, while Bernadotte got an ass chewing that many believe began his road to betrayal.

Davout didn’t need Bernadotte, but his casualties would have been lighter had the future King of Sweden followed and supported. Davout’s III Corps endured 7500 casualties, about one quarter of his corps, but he defeated over 70,000 Prussians, almost twice what Napoleon faced at Jena. Napoleon, ever the narcissist, attempted to downplay Davout’s victory at Auerstadt in favor of his at Jena in official dispatches back to Paris. But Davout’s victory was so overwhelming and against such great odds that even Napoleon couldn’t deny it. He awarded Davout the title of “Duke of Auerstadt”. When the Grande Armee triumphantly marched into Berlin ten days later, it was Davout’s III Corps that marched in the van.

It was said later that “Napoleon won a victory that he could not lose and Davout won a victory that he could not win.” The quote overly simplified a series of complicated engagements. The Battle of Jena was far closer than it seemed with the fog limiting Napoleon’s understanding of the battle. It was Napoleon’s corps system and his subordinates’ proclivity to concentrate and march to the sound of the guns and the Prussian hesitation to do the same that won Jena. The Battle of Auerstadt was far closer than the numbers suggest. Whereas Davout and superstar subordinates efficiently and effectively got the most out their men, Prussian disorganization and paralysis negated their superior numbers.

The French pursued the surviving elements of the Prussian Army across the country, isolating them and never giving them a chance to reorganize. Hohenlohe surrendered after the Berlin fell, Ney captured Magdeburg after a short siege of its garrison reinforced with Jena/Auerstadt refugees, and Blucher was pushed out of Lubeck in a last desperate stand by the remains of the Prussian Army. The Battle of Lubeck was a taste of what the Prussian Army was capable of in competent hands.

The French victories at the battles of Jena and Auerstadt thoroughly humiliated the Prussians and laid to rest once and for all who was the true heir of Frederick the Great. The defeats shattered the idea of Prussian invincibility and directly led to a series of reforms and retirement of the elder Prussian officers. The mass exodus of Prussian officers that came of age in the mid-18th century gave way to a new generation of dynamic reformers. Led by Scharnhorst and Blucher, and consisting of great military minds such as Neidhardt von Gneisenau and Carl von Clausewitz, among many others, the reformers identified the reasons for the Prussian losses and French victories. They remade the Prussian Army into one that defeated Napoleon in the battles from 1813 to 1815. Their contributions to military theory are still felt today.


BATTLE OF AUERSTEDT. 14th October 1806. Germany. Napoleonic Wars 1848 old map

TYPE: Antique hand-coloured engraved map. This map was published in 1848 but it may depict an earlier representation of the area shown dated 1806 and the mapmaker may have drawn on an earlier original work

CONDITION: Good suitable for framing. However, please note: The image shown may have been taken from a different example of this map than that which is offered for sale. The map you will receive is in good condition but there may be minor variations in the condition from that shown in the image which may include some light spotting. Please check the scan for any blemishes prior to making your purchase. Virtually all antiquarian maps and prints are subject to some normal aging due to use and time which is not obtrusive unless otherwise stated. We offer a no questions asked return policy.

AUTHENTICITY: This is an authentic historic map, published at the date stated above. It is not a modern copy.

VERSO: There is nothing printed on the reverse side, which is plain

ARTIST/CARTOGRAPHER/ENGRAVER: Johnston, W & AK

PROVENANCE: "Atlas Alison's history of Europe" by Alexander Keith Johnston, Published by William Blackwood and Sons, Edinburgh & London [Alison's History of Europe]

Đóng gói

Items smaller than A4 size are usually packed in a stiffened, board-backed envelope. Larger items are rolled and packed in postal tubes. Large items which are too stiff to be rolled in wide-diameter tubes are mailed in all-board envelopes. In the unlikely event of damage in transit, please send the affected item or items back to us and we will provide a replacement or refund.

Chuyển

Economy, tracked and express shipping options are available to all destinations worldwide. Over half our orders are sent to customers outside the United Kingdom and we have supplied over 30,000 buyers in over 70 different countries. We ship orders virtually every business day to customers in North America and Europe. The cost of delivery depends on the size of the largest item in your order, where you are located, and the delivery method that you choose at checkout. For orders received before 2pm, we can arrange delivery next day in the UK, within 2 business days to continental Europe and North America, and within 4 days to most other countries worldwide (excludes PO Box or APO/FPO (Military) addresses).

Lợi nhuận

We accept returns for any reason if sent back to us within 14 days of receipt of your order. If any of your items are not as described, we will provide a full refund including reasonable return postage costs upon safe return to us. If you have changed your mind, you are responsible for the cost of returning the item to us. We describe the size, age and condition of all our products as fully and accurately as possible. Most of the items which we sell are in very good condition. However, the condition of antique and vintage prints and maps can vary. All of our product listings including a statement which classifies the condition as being either “Good”, “Fair”, or (rarely) “Poor” and which describes any material flaws, blemishes, imperfections or other significant features such as folds. Please read the description carefully before purchase.


Napoleon Inflicts The Greatest Defeat in Prussian Military History

The twin battles of Jena-Auerstadt proved a major turning point for not only the Napoleonic wars, but also for 19th century Europe as a whole. Immediately, it brought about the end of Prussian resistance to Napoleon. But in the long term shocked the Prussian military system, showing their younger officers that something had to change. After this battle, Prussia began taking steps towards becoming the dominant military power in Northern Europe, eventually uniting all of the German states into the German Empire.

The War of The 4th Coalition, as the conflict between October 7th, 1806 and July 1807 was called, saw an alliance between Russia, Prussia, Great Britain, Saxony and Sweden against France. The Prussians first marched south on October 9th, as a show of force against Napoleon’s control over the Rhineland and Austrian territories. But the Prussian military wasn’t in a fit state for prolonged conflict at this point.

Frederick the Great, his battle acumen and skill led Prussia to victory after victory in the 18th century. But war had changed by the Napoleonic period, and many of the Prussian generals still clung to the old ways. This proved disastrous at Jena- Auerstadt.

For most of the 18th century, the Prussian army had gained a reputation for the successful use of highly skilled mercenaries. Many of the Germanic states had armies for hire, and it was in no way hard to hire an army for a single campaign. Under Frederick the Great they enjoyed many victories in the Seven Years War. By the 4th Coalition, most of the Prussian general staff had come of age under Frederick the Great and were staunch traditionalists. Adding to this, was the disorganized command structure of the Prussian army. There were three chiefs of staff and endless squabbling between them. Because of this, while they had mobilized before Napoleon, they immediately lost the initiative. There were multiple plans of attack to defeat the French forces, but the high command couldn’t decide on which one to implement. This wasted precious time, and by October 13th, 1806 it was too late.

Napoleon’s forces had been marching north, with little resistance. One of his generals, Lannes, had found an advance Prussian force near the town of Jen on the 13th of October. He reported this to Napoleon, who ordered him to take up a strong position. The French troops took up a line of battle on the hills north of Jena, overlooking the plains below them. Initial contact was with only about 5,000 Prussian troops, with 15,000 marching up behind them. By the next morning, they would face around 40,000 Prussians, and Napoleon believed this to be the main enemy force in the region. He began pulling in his reserves, hoping for a decisive victory to crush the Prussians early on.

Louis Nicolas Davout, the commander of the III Corps, received orders to march from his position at Naumburg, north of Jena, to Apolda. Napoleon wanted this force, only 27,000 men, to encircle the Prussians retreating from Jena, to fully secure the victory. Davout’s troops set out around 0400 on the 14th, headed southwest.

Two hours later, Lannes, under orders from Napoleon, advanced towards the Prussians. Along with the French generals Suchet and Gazan, he captured the towns northwest of Jena. But the Prussians counterattacked and forced Lannes, who had pushed out past the French line, to fall back in line with Suchet and Gazan. The Prussians then pushed the attack, but were repulsed by French light infantry which had been hidden from view. Marshal Michel Ney now arrived on the battlefield, with an additional 3,000 men.

He was originally ordered to support Lannes’ right flank, but seeing that Suchet was already in position there, moved to the left. He pushed out past the French line with a combination of infantry and cavalry. While he was initially successful, he overextended himself and was quickly encircled by Prussian troops. Napoleon ordered units from the center to reinforce Ney’s weakened position, giving him a chance to retreat. This left the French center exposed, but Napoleon sent his Imperial Guard into the gap.

Napoleon speaking to his Imperial Guard. These troops answered to Napoleon directly, and he used them as an extension of his own strategy in battle. This adaptability allowed him to recover from the potentially disastrous advance of Marshal Ney at Jena.

The Prussian infantry could have exploited this weakness, but their leaders were sticking too stiffly to their plan, and leaders in the field had too little opportunity to use their own initiative. This would eventually cost them the battle, as the French were able to solidify their position, and repulse the ensuing Prussian assaults. By the end of the day, the French had broken the Prussian line, killing 10,000 men, taking 15,000 prisoners, and capturing 150 pieces of artillery at Jena.

Marshal Murat, leading a cavalry blow during the final push at Jena. French troops present Napoleon with captured Prussian banners at the end of the battle of Jena.

During all of this, another battle was raging to the north. Davout’s III Corps had come in contact with Prussian cavalry and artillery early in the morning and formed a defensive position at Hassenhausen. The Prussians were initially successful, with around 50,000 men, had nearly twice that of Davout. They forced the French into the town of Hassenhausen itself. Then everything went downhill for the Prussians.

Davout with his troops near Auerstadt. His adaptability, and those of his subordinates allowed a small group of French troops to defeat a Prussian force almost twice their size.

Davout’s forces arrived in full around Hassenhausen. Their artillery had come into position, and they were ready to put up a defense. The Prussians attempted to launch a large-scale assault, but due to poor communication couldn’t coordinate between commanders. Their cavalry attacked to the north, only to be met by squares of French infantry. The Prussian infantry attacked to the south, but both were repulsed.

By 1100 it was clear that the Prussian troops were wavering, two of their commanders had been mortally wounded, and the Prussian king Frederick William assumed command. But the King was wrongfully convinced he was facing Napoleon himself, which terrified him. He refused to make a large scale attack, for fear that the French would have a trick up their sleeve and counter. The French then launched a full-scale attack, breaking the Prussian line, and seizing the day.

In all the Prussians lost 13,000 men near Auerstadt and another 20,000 near Jena. But Auerstadt proved to be the most humiliating defeat, for they nearly outnumbered their opponents 2 to 1. After this day, it became clear to a small group of younger Prussian officers that something had to change. Gebhard von Bluecher, Carl von Clausewitz, August Neidhart von Gneisenau, Gerhard von Scharnhorst, and Hermann von Boyen were all present that day.

The Committee to Reorganize the Prussian Army. After Jena and Auerstadt the Prussian army went back to square one. They began rebuilding with a clear, simplified command structure. Promotion was based on skill, rather than political gain or nobility, and training was improved. They managed to turn a gruesome and embarrassing defeat into continuous victory. The Prussian, and later the German, military was almost undefeated from 1815 to 1914, with the start of WW1.

These would later create a reform committee which revolutionized the Prussian military. They realized that mandatory service was necessary, that individual initiative needed to be taken by commanders at the front, and reliance on mercenaries and conscripts wasn’t a viable option anymore. Their reforms set the stage for Prussia’s military might in the rest of the 19th century, eventually allowing them to crush the French in the Franco-Prussian war, establishing the German Empire as the military powerhouse on the continent.


Battle of Auerstadt, 14 October 1806 - History


Battle of Jena-Auerst dt &mdash October 14, 1806

Các Battle of Jena-Auerst dt was part of the War of the Fourth Coalition , which in turn was a chapter in the Napoleonic Wars .


Napoleon and 122,000 of his soldiers met with 114,000 Prussians for a picnic at Jena and Auerst dt, which is your Germany today.

This map shows the environs of Jena .
Auerstedt
(spelling has changed) is situated just 10 miles north of Jena.

Who Won the Battle of Jena-Auerstaedt?
Who Lost?

Napoleon won a great victory. France lost 12,000 men and the Prussians 24,000.



The Aftermath of the Battle of Jena-Auerst dt

On November 24, 1806, the Prussian troops that had managed to survive the Battle of Jena surrendered.

Seven months after the battle of Jena, in June 1807, Napoleon followed up with another military triumph at the Battle of Friedland . His success at Jena and Friedland gave Napoleon the upper hand in Prussia.

He savored the moment by having Prussia and Russia sign the Treaties of Tilsit . These treaties were signed July 7 and 9, 1807.


And here are the battle maps

By the way, one of the men who fought for Prussia was the young Carl von Clausewitz .


Xem video: Giá vàng chiều nay 9999 ngày 112021Giá vàng đầu năm 2021 bao nhiêu 1 chỉ Cập nhật giá vàng 24h