John Bright

John Bright

John Bright, con trai của Jacob Bright, một nhà sản xuất bông tự làm và thành công, sinh ra ở Rochdale vào ngày 16 tháng 11 năm 1811. Jacob rất sùng đạo và gửi John đến các trường Quaker ở Lancashire và Yorkshire. Nền giáo dục Quaker này đã giúp phát triển ở Bright một cam kết nhiệt thành đối với bình đẳng chính trị và tôn giáo.

Sau khi quá trình học chính thức kết thúc, Bright tham gia vào công việc kinh doanh của gia đình đang mở rộng nhanh chóng. Ông cũng tham gia vào chính trị địa phương và tham gia chiến dịch chấm dứt hỗ trợ thuế bắt buộc của Nhà thờ Anh giáo ở Rochdale.

Vào tháng 10 năm 1837, Joseph Hume, Francis Place và John Roebuck thành lập Hiệp hội Chống Luật Ngô ở London. Năm sau, Richard Cobden cùng với Archibald Prentice thành lập chi nhánh của tổ chức này tại Manchester. Vào tháng 3 năm 1839, Cobden là người có công trong việc thành lập một Liên đoàn luật chống ngô tập trung mới. Cobden bây giờ đã có thể tổ chức một chiến dịch quốc gia ủng hộ cải cách. Cobden là bạn của Bright và đề nghị anh ấy nên tham gia Liên đoàn. Bright đồng ý và trong vài năm tiếp theo, ông đã đi lưu diễn khắp đất nước để phát biểu về sự cần thiết phải cải cách Luật ngô. Bright là một nhà hùng biện xuất chúng và anh ấy đã thu hút đám đông lớn ở bất cứ nơi nào anh ấy xuất hiện.

Trong các bài phát biểu của mình, John Bright đã công kích vị trí đặc quyền của tầng lớp quý tộc trên đất liền và cho rằng sự ích kỷ của họ đã gây ra nhiều đau khổ cho tầng lớp lao động. Bright đã kêu gọi các tầng lớp lao động và trung lưu cùng nhau tham gia cuộc chiến giành tự do thương mại và thực phẩm rẻ hơn.

Năm 1843, Bright được bầu làm đại diện cho Durham tại Hạ viện. Tại Quốc hội, ông vận động cho việc bãi bỏ Luật ngô. Ông cũng ủng hộ những người Whigs ủng hộ quyền phổ thông đầu phiếu và bỏ phiếu kín. Tuy nhiên, không giống như hầu hết các Radicals, Bright phản đối việc Quốc hội quy định giờ làm việc của công nhân nhà máy. Bright lo sợ rằng luật về nhà máy sẽ làm giảm lương và đe dọa hoạt động thương mại xuất khẩu của Anh và kết quả là đã bỏ phiếu chống lại Đạo luật Nhà máy năm 1844.

Vụ mùa khoai tây ở Ireland thất bại năm 1845 và nạn đói hàng loạt xảy ra sau đó, buộc Ngài Robert Peel và chính phủ Bảo thủ của ông phải xem xét lại sự khôn ngoan của Luật ngô. Những người theo chủ nghĩa dân tộc Ireland như Daniel O'Connell cũng tham gia vào chiến dịch. Peel dần dần được đánh giá cao và vào tháng 1 năm 1846, một Luật Ngô mới được thông qua đã giảm thuế đối với yến mạch, lúa mạch và lúa mì xuống mức không đáng kể là một shilling mỗi quý đã trở thành luật.

Bright giờ đây đã là một anh hùng dân tộc và anh ấy đã sử dụng vị thế cao của mình để vận động cho các mục đích tiến bộ khác. Khi còn là một Quaker, Bright đã phản đối chính sách đối ngoại hiếu chiến của Lord Palmerston. Bright cùng với Richard Cobden tham gia chiến dịch chống lại Chiến tranh Krym (1854-1856). Hai ông đã bị báo chí lạm dụng nhiều và một số nghị sĩ thậm chí còn buộc tội họ phản quốc.

Công chúng Anh chia sẻ sự nhiệt tình của chính phủ đối với cuộc chiến và trong cuộc Tổng tuyển cử năm 1857, cả Bright và Richard Cobden đều mất ghế trong Hạ viện. Tuy nhiên, 5 tháng sau, ông thắng cử ở Birmingham. Bright từ chối thay đổi quan điểm của mình về chính sách đối ngoại của Anh. Ông đổ lỗi cho Cuộc nổi dậy của người Anh là sai trái của người Anh và chủ trương rằng người dân Ấn Độ nên được phép bầu ra chính phủ của riêng họ.

Bright hiện là một trong những người ủng hộ hàng đầu trong Hạ viện cho quyền phổ thông đầu phiếu. Trong một bài phát biểu được thực hiện vào năm 1858, ông chỉ ra rằng chỉ có một trong số sáu nam giới trưởng thành có quyền bỏ phiếu ở Anh và rằng dưới 200.000 cử tri thường xuyên trở lại hơn 50% tổng số nghị sĩ. Bright kêu gọi chấm dứt tất cả các quận thối rữa và giới thiệu cuộc bỏ phiếu kín.

Bright bị sốc trước sự bùng nổ của Nội chiến Hoa Kỳ. Là một Quaker, ông hoàn toàn phản đối chế độ nô lệ và là một người ủng hộ nhiệt thành cho Abraham Lincoln. Tuy nhiên, quan điểm tôn giáo của ông cũng ngăn cản ông vì lập luận ủng hộ việc Anh cử quân đội để giúp lực lượng Liên minh chống lại Liên minh miền Nam.

Năm 1865, Lord John Russell, lãnh đạo phe Tự do trong Nghị viện, trở thành Thủ tướng. Russell và William Gladstone, lãnh đạo chính phủ Hạ viện, đều là những người ủng hộ cải cách quốc hội và mặc dù nhiều đảng viên Tự do vẫn phản đối chế độ phổ thông đầu phiếu, họ vẫn quyết tâm thử.

Bright đã đi tham quan đất nước và sử dụng kỹ năng thuyết trình trước đám đông đáng kể của mình để gây ủng hộ cho biện pháp này. Tuy nhiên, chính phủ của Russell nhận thấy rằng không thể đưa dự luật được Hạ viện thông qua. Khi Russell từ chức vào năm 1866, ông được thay thế bởi Bá tước Derby và với sự hỗ trợ của Benjamin Disraeli, chính phủ mới đã thông qua Đạo luật Cải cách năm 1867.

William Gladstone trở thành Thủ tướng năm 1868 và vì ông là một người rất ngưỡng mộ Bright, ông đã bổ nhiệm ông làm Chủ tịch Hội đồng Thương mại. Giờ đây Bright rất vui khi thấy chính phủ Tự do thông qua một số biện pháp mà ông đã vận động trong nhiều năm. Điều này bao gồm việc mở cửa các trường đại học cho những người Không tuân thủ, bỏ phiếu kín và giáo dục do chính phủ tài trợ. Không may sức khỏe yếu khiến ông phải nghỉ hưu khỏi Nội các vào tháng 12 năm 1870.

Những người Tự do đối lập nhau từ năm 1874 đến năm 1880 nhưng sau khi William Gladstone trở thành Thủ tướng năm 1870, Bright trở lại chính phủ với tư cách là Thủ tướng của Công quốc Lancaster. Bright phản đối chính sách đối ngoại của chính phủ Tự do và khi hạm đội Anh tấn công Ai Cập năm 1882, ông từ chức Nội các.

John Bright vẫn là nghị sĩ của Birmingham cho đến khi ông qua đời vào ngày 27 tháng 3 năm 1889.

Trong thời gian tôi ở Birmingham, John Bright là một trong ba thành viên của Nghị viện cho quận. Tôi thường xuyên nghe thấy anh ta ở Tòa thị chính Birmingham. Tôi đã nghe nhiều diễn giả nổi tiếng trong hội trường và ở nhiều nơi khác, nhưng chưa bao giờ một diễn giả nào sánh được với John Bright. Sự đơn giản trong ngôn ngữ của anh ấy, sự đơn giản không bị ảnh hưởng của các bức tranh minh họa của anh ấy, sức mạnh của anh ấy để hướng dẫn các điểm trong bài phát biểu của anh ấy, kết hợp với giọng điệu bay bổng mà anh ấy đã thành thạo, khiến người ta cảm thấy rằng đó là một đặc ân tuyệt vời khi được nghe những bài diễn xướng như vậy. , và để quan sát nhà hùng biện.