Erich Raeder: Đức Quốc xã

Erich Raeder: Đức Quốc xã

Erich Raeder, con trai của một hiệu trưởng, được sinh ra ở Wandsbek, Schleswig-Holstein, vào ngày 24 tháng 4 năm 1876. Sau một nền giáo dục cổ điển tốt, ông gia nhập Hải quân Đế quốc năm 1894. Ông đã tiến bộ nhanh chóng và trở thành Tham mưu trưởng cho Franz von Hipper vào năm 1912. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, ông đã được chứng kiến ​​hành động và năm 1928 được thăng cấp đô đốc và người đứng đầu Hải quân Đức.

Raeder không thích các chính sách đối nội của Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội Chủ nghĩa (NSDAP) nhưng lại ủng hộ Adolf Hitler trong nỗ lực khôi phục nước Đức như một cường quốc. Năm 1939, Hitler thăng cấp cho Raeder lên cấp đại đô đốc, là người Đức đầu tiên giữ chức vụ này kể từ Alfred von Tirpitz.

Chiến lược của Raeder là xây dựng Hải quân Đức có thể thách thức Hải quân Anh. Điều này khiến anh ta xung đột với Hermann Goering, người với tư cách là giám đốc kinh tế Đức đã hướng nhiều nguồn lực cho Không quân Đức hơn là hải quân.

Vào tháng 10 năm 1939, Raeder gửi cho Adolf Hitler một đề nghị về việc chiếm Đan Mạch và Na Uy. Ông cho rằng Đức sẽ không thể đánh bại Anh trừ khi nước này tạo ra các căn cứ hải quân ở các nước này. Vào tháng 4 năm 1940, Hitler đã cho phép thực hiện hành động này nhưng ông ta thất vọng vì những tổn thất nặng nề mà Hải quân Đức phải gánh chịu trong quá trình thực hiện mục tiêu này.

Raeder ủng hộ Chiến dịch Sealion, cuộc xâm lược Anh đã được lên kế hoạch của Đức, nhưng cho rằng trước tiên Không quân Đức phải giành được ưu thế trên không. Khi Hermann Goering không thể giành chiến thắng trong Trận chiến ở Anh, Reader đã khuyên Hitler ngừng cuộc xâm lược. Anh ta cũng là một đối thủ mạnh của Chiến dịch Barbarossa.

Adolf Hitler ngày càng mất niềm tin vào hoạt động của Hải quân Đức và sau khi LuetzowĐô đốc Hipper thất bại trong việc ngăn chặn một đoàn xe lớn ở Bắc Cực mà anh ta buộc tội chỉ huy của mình là không đủ năng lực. Raeder từ chức vào tháng 1 năm 1943 và được thay thế bởi Karl Doenitz làm Tổng tư lệnh hải quân.

Tại Phiên tòa xét xử tội phạm chiến tranh Nuremberg, Raeder bị kết tội âm mưu gây chiến tranh xâm lược và bị kết án tù chung thân. Ông được trả tự do vào năm 1955 và khi nghỉ hưu đã viết hồi ký của mình Mein Leben (Năm 1957). Erich Raeder qua đời tại Kiel vào ngày 6 tháng 11 năm 1960.

Việc thay thế Đô đốc Raeder, Tổng tư lệnh Hải quân Đức, bằng chuyên gia U-boat Đô đốc Donitz (được công bố hôm thứ Bảy) ở Thụy Điển được coi là dấu hiệu cho thấy những dấu hiệu gần đây cho thấy Hitler đang nuôi hy vọng chiến thắng trong cuộc chiến. bằng thuyền chữ U. Các báo cáo của Stockholm nói rằng ở đó người ta biết rằng Hitler hầu như đã dừng tất cả các công trình hải quân lớn để đóng tàu ngầm. Người ta nói rằng tỷ lệ gần như một ngày.

Raeder, người "đã được bổ nhiệm làm Đô đốc-Thanh tra" đang bị thuyên giảm công việc hàng ngày của mình trong lãnh đạo Hải quân "theo yêu cầu riêng của anh ấy"

Donitz đã từng là trưởng hạm đội U-boat. Ông được coi là "chuyên gia tàu ngầm vĩ đại nhất" ở Đức, và là người phát minh ra hệ thống "bầy sói".

Theo đài phát thanh Đô đốc Donitz của Đức, trong một bài phát biểu trước Bộ Tham mưu Hải quân Đức khi lá cờ của ông được treo trên Bộ Hải quân Đức, cho biết: "Toàn bộ Hải quân Đức từ đó sẽ được đưa vào phục vụ chiến đấu không thể lay chuyển đến cùng."

Trong một mệnh lệnh trong ngày, được công bố vào thứ Bảy, Donitz cho biết ông sẽ tiếp tục chỉ huy các thuyền U-boat, với tư cách cá nhân.

Theo Reuter, việc sa thải Đô đốc Raeder sẽ khiến Đức thêm tuyệt vọng vì ông là một người được tin cậy. Hải quân - lực lượng ít bị phát xít hóa nhất trong số các lực lượng Đức - sẽ rất tiếc nuối trước sự ra đi của ông. Raeder đặt Hải quân trước cả nhóm và càng xa càng tốt, giữ cho Hải quân hoạt động hiệu quả và tự trọng. Anh ta được thay thế bởi một Đức Quốc xã hăng hái hơn.


Erich Raeder trước Đại đô đốc

Erich Johann Albert Raeder (24 tháng 4 năm 1876 - 6 tháng 11 năm 1960) là một nhà lãnh đạo hải quân ở Đức trước và trong Thế chiến thứ hai. Raeder đã đạt được cấp bậc hải quân cao nhất có thể — của Großadmiral (Đại đô đốc) - vào năm 1939, trở thành người đầu tiên giữ cấp bậc đó kể từ Alfred von Tirpitz. Raeder dẫn đầu Kriegsmarine (Hải quân Chiến tranh Đức) trong nửa đầu của cuộc chiến, ông từ chức năm 1943 và được thay thế bởi Karl Dönitz. Anh ta bị kết án tù chung thân tại Nuremberg Trials, nhưng được trả tự do sớm do sức khỏe không tốt. Raeder cũng nổi tiếng với việc cách chức Reinhard Heydrich khỏi Reichsmarine vào tháng 4 năm 1931 vì "hành vi không phù hợp với một sĩ quan và một quý ông".

Bài báo này đề cập đến cuộc đời của Raeder trước khi ông trở thành Đại đô đốc.


Erich Raeder II

Erich Raeder coi việc Đức Quốc xã đàn áp người Do Thái và các nhóm khác là một công việc tồi tệ mà ông không tán thành, nhưng vì đây không phải là vấn đề hải quân nên về cơ bản, ông coi đó không phải là mối quan tâm của mình. Tuy nhiên, khi cuộc đàn áp như vậy chạm vào hải quân của ông, ông đã lao vào hành động như một con gà trống giận dữ. Ví dụ, vào cuối những năm 1930, Đức Quốc xã bắt đầu quấy rối Chuẩn Đô đốc đã nghỉ hưu Karl Kuehlenthal vì ông là người lai Do Thái và vợ con của ông là người Do Thái. Ngay sau khi Raeder biết được điều đó, anh ta đã nói thẳng vấn đề với Adolf Hitler. Lần đầu tiên Raeder đưa ra vấn đề, Fuehrer đã từ chối thẳng thừng yêu cầu của tổng tư lệnh hải quân về việc miễn trừ các Kuehlenthals khỏi Luật Nuremberg (vốn đặt ra khuôn khổ cho cuộc đàn áp người Do Thái), nhưng nếu Hitler nghĩ rằng vấn đề đã kết thúc ở đây, anh ấy đã nhầm lẫn nghiêm trọng. Giống như một chú chó bulldog đã bị đá một lần, Raeder chỉ đơn giản là tiếp tục quay lại với nó. Những người này là hải quân! Những lời khiển trách bằng lời nói thẳng vào mặt thủy thủ đã khiến Fuehrer không tốt. Vị đô đốc nhỏ bé này đưa ra yêu cầu ở lần gặp mặt tiếp theo, lần này đến lần khác, lần sau, cho đến khi Hitler cuối cùng nhận ra rằng cách duy nhất mà ông ta có thể giải quyết là thay thế Raeder hoặc nhường đường cho ông ta. Cuối cùng, ông ấy đã tự mình ký vào giấy miễn trừ. Với tài liệu này, các Kuehlenthal không chỉ tránh được các trại tử thần mà họ còn phải giữ được tài sản của mình và Đô đốc Kuehlenthal tiếp tục rút tiền trợ cấp cho đến khi chiến tranh kết thúc. Đây không phải là trường hợp duy nhất Raeder bảo vệ những người tình cờ là người Do Thái trên thực tế, Đức Quốc xã đã thành công trong việc buộc chỉ hai sĩ quan không phải Aryan ra khỏi hải quân theo Luật Nuremberg. Tuy nhiên, khi chiến tranh nổ ra, Raeder nhanh chóng triệu tập họ về nước tại ngũ, nơi họ được đối xử như những sĩ quan khác. Raeder thậm chí còn đi xa đến mức cầu hôn (thành công) cho một vài gia đình Do Thái mà anh biết khi còn nhỏ ở Gruenberg, thậm chí đến mức đảm bảo họ được thả khỏi các trại tập trung, điều mà sau này anh thề rằng anh không biết gì về nó. Điều này là có thể xảy ra, tuy nhiên anh ta không làm gì để cố gắng ngăn chặn cuộc đàn áp những người Do Thái không hải quân hoặc các nhóm khác mà Đức Quốc xã ghét.

Người Do Thái không phải là những người duy nhất được Raeder bảo vệ — tất nhiên, với điều kiện, họ là những người lính hải quân hoặc những người bạn cá nhân. Các thành viên của Giáo hội Khoa học Cơ đốc giáo (tất nhiên là có quan hệ với hải quân) đã được hưởng lợi từ những lời cầu xin của anh ta, và ít nhất một người đã được thả ra khỏi trại tập trung vì anh ta. Raeder cũng đã có một cuộc chiến liên tục ít nhiều với Bộ trưởng Tuyên truyền Joseph Goebbels và Gestapo về các tuyên úy hải quân, những người mà Raeder luôn ủng hộ vững chắc trong mọi trường hợp. Một sự cố năm 1942 là điển hình. Một sĩ quan hải quân (người được ví như một con chim bồ câu bằng phân Gestapo) đã cáo buộc một tuyên úy hải quân đã đưa ra những nhận xét xúc phạm về một số nhà phát xít hàng đầu. Gestapo đã cố gắng đưa vụ án ra xét xử tại một tòa án dân sự (tức là Đức Quốc xã), nhưng Raeder không chịu. Vị tuyên úy nhanh chóng được đưa ra trước một tòa án hải quân (các thành viên trong số đó được chỉ định bởi Raeder) và nhanh chóng được tha bổng. Đích thân đô đốc xác nhận phán quyết và sau đó cho đặc vụ Gestapo giải ngũ khỏi hải quân vì tội khai man!

Mối quan hệ của Raeder với Hitler trở nên căng thẳng vào ngày 1 tháng 11 năm 1938, khi Hitler lần đầu tiên mất bình tĩnh với đô đốc. Hitler xé kế hoạch xây dựng hải quân thành nhiều mảnh và ra lệnh cho Raeder đệ trình một chương trình mới. Fuehrer đặc biệt chỉ trích vũ khí trang bị yếu và giáp trên tàu Bismarck và Tirpitz, đồng thời yêu cầu hạm đội U-boat nhanh chóng được mở rộng để có thể sánh ngang với hạm đội tàu ngầm Anh. Ông cũng ra lệnh thông báo cho người Anh về ý định của mình ngay lập tức, phù hợp với các điều khoản của hiệp ước năm 1935.

Có thêm một số cuộc gặp giữa Hitler và Raeder vào mùa đông năm 1938–1939. Và Raeder cảnh báo, "Nếu chiến tranh nổ ra trong một hoặc hai năm tới, hạm đội của chúng ta sẽ không sẵn sàng." Hitler trung thành trả lời: "Vì mục tiêu chính trị của tôi, tôi sẽ không cần Hạm đội trước năm 1946!"

Một lần nữa Raeder tin anh ta, giống như anh ta đã hứa rằng sẽ không có chiến tranh với Vương quốc Anh. Bây giờ cuộc nói chuyện là về chiến tranh với Anh và các đồng minh của cô, nhưng không phải trước năm 1946, và Raeder vẫn tin - mặc dù cuộc khủng hoảng Sudetenland đã đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh chỉ ba tháng trước đó. Kết quả của tất cả những điều này là Kế hoạch Z nổi tiếng (Z cho Ziel, hoặc "mục tiêu"), mà Raeder đã đệ trình lên Fuehrer vào ngày 17 tháng 1 năm 1939. Mặc dù ngày đặt mục tiêu cuối cùng của nó phải đến năm 1947, kế hoạch xây dựng hải quân mới kêu gọi Đức trang bị sáu thiết giáp hạm Type H (lượng choán nước hơn 56.000 tấn và trang bị pháo 420mm) vào đầu năm 1944, ngoài bốn thiết giáp hạm lớp Bismarck. Nó cũng có 4 tàu sân bay, 15 tàu đột kích mặt nước (Panzerschiffe, hoặc thiết giáp hạm bỏ túi), 5 tàu tuần dương hạng nặng, 44 tàu tuần dương nhỏ hơn, 68 tàu khu trục và 249 tàu U-boat. Hitler đã phê duyệt kế hoạch vào ngày 27 tháng 1 và giao nó ưu tiên tuyệt đối cho cả hai dịch vụ khác, đồng thời đảm bảo với Raeder rằng ông ta sẽ không cần đến hạm đội trong vài năm nữa.

Sau khi Kế hoạch Z được phê duyệt, Raeder đã trở lại trong sự ân cần tốt đẹp của Fuehrer trong nửa đầu năm 1939. Vào ngày 1 tháng 4 năm 1939, Hitler thăng cấp ông ta lên đại đô đốc (Grossadmiral), người thứ năm trong lịch sử nước Đức. Tuy nhiên, kỷ nguyên của cảm giác tốt đẹp này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn và lý do là Hitler bảo vệ một người phụ nữ mà ông ta thậm chí chưa gặp.

Vào tháng 6 năm 1938, Chỉ huy Karl-Jesso von Puttkamer, phụ tá hải quân của Hitler, quay trở lại các tàu khu trục để thực hiện chuyến tham quan trên biển. Anh ta được thay thế bởi Trung tá chỉ huy 35 tuổi Alwin Albrecht. Năm 1939, Albrecht kết hôn với một nữ nữ học sinh trẻ tuổi từ Kiel, với Erich Raeder là một trong những nhân chứng. Vài tuần sau, vào tháng 6 năm 1939, nữ đô đốc nhận được một số lá thư nặc danh tiết lộ rằng bà đã sống trong tội lỗi với một người đàn ông giàu có. Hóa ra cô ấy được biết đến nhiều với đồn hải quân địa phương tại Kiel - theo nghĩa kinh thánh. Đương nhiên, những câu chuyện về quá khứ của Frau Albrecht đến tai những người vợ hải quân, những người nhanh chóng khiến họ phẫn nộ. Chỉ huy Albrecht đã kiện một kẻ kích động — và thua cuộc. Tại thời điểm này, Raeder theo chủ nghĩa thuần túy đã cho người phụ tá đi nghỉ và xuất hiện bất ngờ tại Berghof (nơi ở của Hitler trên Obersalzburg) và khăng khăng rằng người chỉ huy phải bị sa thải vì đã tham gia vào một cuộc hôn nhân ô nhục. Tuy nhiên, Hitler từ chối sa thải Albrecht hoặc cho phép đại đô đốc làm như vậy.

Cuộc tranh cãi sau đó kéo dài hai giờ. Hitler hét vào mặt Raeder - và Raeder hét lại. Tiếng la hét của họ có thể nghe thấy khắp nhà. "Có bao nhiêu người vợ hải quân hiện đang phô trương đức hạnh của họ đã từng có những cuộc tình trong quá khứ?" Fuehrer hét lên. "Quá khứ của Frau Albrecht là mối quan tâm của không ai khác ngoài chính cô ấy!" Cuối cùng Raeder tuyên bố rằng ông sẽ từ chức trừ khi Albrecht bị sa thải.

Hitler đáp. Raeder trở về Berlin trong một cơn giận dữ. Ngay sau đó, Hitler mời Frau Grete Albrecht đến Obersalzburg. Cô được đưa đến nhà khách Bechstein, một biệt thự biệt lập gần Berghof, nơi Hitler đã đến thăm cô trong một giờ rưỡi. Grete Albrecht là một cô gái tóc vàng cao - đúng kiểu phụ nữ mà Hitler thích. Anh ta thấy cô quyến rũ và rời khỏi nhà khách một cách tức giận với thứ mà anh ta coi là tiêu chuẩn kép của quân đoàn sĩ quan.

Sau đó, sự việc đã trở thành âm hưởng của một vở opera truyện tranh. Thay vì từ chức, Raeder miễn nhiệm Albrecht làm phụ tá hải quân theo thẩm quyền của mình với tư cách là tổng tư lệnh hải quân. Hitler trả đũa bằng cách cho Albrecht làm phụ tá riêng. Albrecht giải ngũ ngày 30 tháng 6 năm 1939, và được đưa vào hoạt động Obetfuehrer trong Quân đoàn Cơ giới Xã hội Chủ nghĩa Quốc gia vào ngày hôm sau. (Trên thực tế, anh ta đã được thăng ba bậc trong quân hàm.) Sau đó, Raeder từ chối bổ nhiệm một phụ tá hải quân mới. Tuy nhiên, với chiến tranh đang cận kề, vị trí quan trọng này không thể bị bỏ trống, vì vậy Puttkamer đã được triệu hồi khỏi chi nhánh tàu khu trục để đảm nhận lại nhiệm vụ cũ của mình (mặc dù ông được chính thức gọi là phụ tá của Alfred Jodl cho đến tháng 10, để cứu mặt Raeder). Trong khi đó, hải quân đã mời Hitler tham dự một cuộc hạ thủy tại Bremen vào ngày 1 tháng 7, nhưng nhà độc tài đã từ chối. Trong khi đó, những người vợ hải quân tập hợp xung quanh Raeder, bắn phá Albrecht bằng những lời mời xã giao nhưng không mời vợ anh ta. Về phần mình, Đô đốc Raeder không bao giờ tha thứ cho những lời xúc phạm của Hitler và từ chối trao đổi lại với ông ta — một quyết định mà ông ta đã không phá vỡ cho đến khi bắt đầu cuộc chiến.

Trong khi đó, như để hoàn thành vở hài kịch, Grete Albrecht đã bỏ chồng và chuyển về ở với người tình cũ. Oberfuehrer Albrecht ly hôn với cô vào năm 1940 và tái hôn vào năm sau - may mắn hơn là lần này. Như một chú thích cuối trang, Albrecht không bao giờ quên cách Hitler bảo vệ ông ta. Anh ta trở thành một nhà phát xít nhiệt thành và được cho là đã bị giết khi chiến đấu với những người Nga trên đường phố Berlin vào năm 1945.

Chiều ngày 3 tháng 9 năm 1939, hai ngày sau khi cuộc xâm lược Ba Lan bắt đầu, Đại Đô đốc Erich Raeder gác lại tình cảm cá nhân và gặp Adolf Hitler. Ngay cả bây giờ Hitler cũng bày tỏ quan điểm rằng Anh sẽ không chiến đấu. Lần đầu tiên, Erich Raeder không tin anh ta. Nhưng bây giờ đã quá muộn. Vương quốc Anh tuyên chiến với Đức Quốc xã cùng ngày hôm đó.

Hải quân Đức tham chiến trước thời hạn 5 năm và chỉ 4 năm sau khi quá trình mở rộng hậu Versailles bắt đầu. Nó có sai loại kim khí và không có cách nào sẵn sàng. “Các lực lượng bề mặt. . . Không thể làm gì hơn ngoài việc chứng tỏ rằng họ biết cách chết một cách dũng cảm, ”Đô đốc Raeder ảm đạm viết trong nhật ký chiến tranh SKL. Tổng sức mạnh của Hải quân Đức về tàu mặt nước là hai thiết giáp hạm, ba thiết giáp hạm bỏ túi, một tàu tuần dương hạng nặng, sáu tàu tuần dương hạng nhẹ và 34 tàu khu trục và tàu phóng lôi. Tuy nhiên, trong tổng số này, rất ít hoạt động trên biển, ngoại trừ các thiết giáp hạm bỏ túi Deutschland và Graf Spee, và U-boat, vốn bị hạn chế chặt chẽ. Dần dần Raeder thuyết phục nhà độc tài nới lỏng những hạn chế này cho đến khi, vào tháng 11 năm 1939, khi quân đội chủ lực từ Ba Lan và miền Tây nước Đức không còn bị xâm lược, Hitler đồng ý tuyên bố chiến tranh tàu ngầm không hạn chế.

Tuy nhiên, vũ khí hải quân hiệu quả nhất của Đức vào năm 1939 không phải là U-boat mà là thủy lôi từ tính. Được các tàu khu trục và tàu khai thác mìn ký gửi ngoài khơi bờ biển phía đông nước Anh, và ngoài khơi bờ biển phía nam và phía tây bằng tàu thuyền U và thủy phi cơ hải quân, chúng không thể bị phát hiện bởi công nghệ ngày nay. Đến tháng 12, họ đã đánh chìm 67 tàu Đồng minh và trung lập (252.237 tấn tổng đăng ký), và đến tháng 3 năm 1940, họ đã đánh chìm 128 tàu buôn, 3 tàu khu trục và 6 tàu phụ. Thật không may cho Đức, Đại đô đốc Raeder, với vô số kế hoạch trang bị vũ khí trước chiến tranh và nỗi ám ảnh rằng Đức sẽ không chiến đấu với Anh, đã bỏ qua tất cả những gì được coi là vũ khí bất khả chiến bại. Hermann Goering cũng không được giúp đỡ. Anh ta từ chối sử dụng Không quân Đức của mình để thả mìn cho đến khi kho dự trữ của anh ta đạt 5.000 - và lúc đó người Anh đã phát hiện ra một quả mìn từ trường do một thủy phi cơ vô tình thả xuống một bãi bùn và đã nghĩ ra các biện pháp đối phó hiệu quả. Trong khi đó, khẩu Graf Spee đã bị phá hủy và Hitler đang gửi các tín hiệu hỗn hợp tới OKM (Oberkommando der Kriegsmarine, hoặc Bộ Tư lệnh Hải quân). Trong một hơi thở, anh ta muốn hành động hải quân hung hãn, nhưng ngay sau đó, anh ta khuyên hãy thận trọng và kiềm chế. Raeder cũng áp dụng cách tiếp cận tương tự: ông muốn các đơn vị mặt nước của mình đạt được những chiến thắng lớn nhưng không mạo hiểm với các tàu vốn của họ khi làm như vậy. Làm thế nào một chỉ huy mặt nước được cho là giành được một chiến thắng lớn trước Hải quân Hoàng gia mà không mạo hiểm với lực lượng của chính mình chưa bao giờ được nêu rõ. Nhưng bất kỳ chỉ huy tàu mặt nước nào không tiến hành các hoạt động chính xác như Đô đốc Raeder và các nhân viên của ông ta nghĩ rằng anh ta nên (sau khi thực tế là!) Bị từ bỏ công việc của mình. Người đầu tiên đi là Đô đốc Hermann Boehm, chỉ huy hạm đội.

Đô đốc Hermann Boehm

Hermann Boehm sinh tại Rybnik / Upper Silesia (nay là Ba Lan) vào ngày 18 tháng 1 năm 1884, và gia nhập Hải quân Đế quốc với tư cách là một học viên đường biển năm 1903. Được ủy nhiệm vào năm 1906, ông từng là chỉ huy của nhiều tàu phóng lôi từ năm 1911 đến năm 1918. Giải ngũ khỏi hải quân với tư cách là một Kapitaenleutnant (trung úy) vào năm 1919, ông tái nhập ngũ vào năm sau và tiếp tục thể hiện mình trong một số nhiệm vụ, bao gồm chỉ huy Đội tàu phóng lôi số 2 (1926–1928), tham mưu trưởng của Bộ Tư lệnh Hạm đội (1932–1933), chỉ huy thiết giáp hạm Hessen (1933–1934), và chỉ huy Lực lượng Trinh sát (1934–1937), đồng thời chỉ huy các lực lượng hải quân Đức trên vùng biển Tây Ban Nha trong năm đầu tiên của Nội chiến Tây Ban Nha (1936–1937). Khi trở về Đức, ông được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng Địa khu Hải quân Bắc Hải (vào ngày 4 tháng 10 năm 1937). Boehm được thăng cấp nhanh chóng theo các tiêu chuẩn thời đó, lên trung úy chỉ huy (1922), chỉ huy trưởng (1928), đại úy (1930), hậu đô đốc (1934), phó đô đốc (1937) và đô đốc (1938). Ông được bổ nhiệm làm chỉ huy hạm đội vào ngày 1 tháng 11 năm 1938. Tuy nhiên, nhiệm kỳ của ông trong chức vụ quan trọng này được định đoạt là ngắn ngủi. Đô đốc Boehm không bị thuyên giảm quyền chỉ huy vì ông không đủ khả năng, hoặc vì bất kỳ sai lầm chiến thuật nào từ phía ông, hoặc do bất kỳ cân nhắc hoạt động nào. Thay vào đó, anh ta bị sa thải vì Raeder đã ngoại trừ cách diễn đạt của mệnh lệnh mà sĩ quan điều hành của Boehm đã ban hành. Đại đô đốc nghĩ rằng có một lời chỉ trích ngụ ý đối với một trong những quyết định của ông trong một khuyến nghị hoạt động, và Erich Raeder không chấp nhận những lời chỉ trích (thực tế hay tưởng tượng) cho lắm. Boehm được thay thế bởi Phó Đô đốc Wilhelm Marschall, cựu chỉ huy của các tàu đột kích mặt nước, vào ngày 21 tháng 10 năm 1939.

Mặc dù thực tế là ông đã bị sa thải, nhưng khả năng của Đô đốc Boehm chưa bao giờ bị nghi ngờ tại SKL. Sau khi tính khí của Raeder nguội đi, ông gọi lại Boehm và bổ nhiệm ông làm đô đốc chỉ huy Na Uy (và sau đó là tổng tư lệnh, Bộ Tư lệnh Hải quân Na Uy), và thậm chí thăng chức cho ông lên Đại tướng vào ngày 1 tháng 4 năm 1941. Ông vẫn giữ chức vụ này cho đến khi Grand nổi lên. Đô đốc Doenitz, người đã gửi ông trở lại nghỉ hưu vào đầu năm 1943 vì Boehm thiếu niềm tin vào Chủ nghĩa xã hội quốc gia, vì sự phản đối của ông đối với các biện pháp áp đặt đối với người dân Na Uy của Reichs-ủy viên Josef Terboven, và vì Doenitz tương đối trẻ cảm thấy bị đe dọa. và (như Raeder trước anh ta) đã thay thế bất kỳ sĩ quan cấp cao nào mà anh ta nghĩ có thể thách thức anh ta.

Hermann Boehm đã nghỉ hưu một năm. Sau đó, vào ngày 1 tháng 3 năm 1944, Doenitz (cũng giống như Raeder trước đó) triệu hồi Boehm để thực hiện nhiệm vụ tích cực với tư cách là giám đốc thanh tra giáo dục hải quân. Boehm vẫn ở lại văn phòng này cho đến khi thời kỳ cuối cùng của thời kỳ Reich xuất hiện. Ông nghỉ hưu từ ngày 31 tháng 3 năm 1945 và chuyển đến Kiel, nơi ông qua đời vào ngày 11 tháng 4 năm 1972, hưởng thọ 88 tuổi.

Trường hợp của Hermann Boehm chỉ là một ví dụ về việc Đại đô đốc Raeder không thể sử dụng một cách hợp lý một cấp dưới có tài năng tiềm tàng. Bàn tay không chắc chắn của Raeder cũng được nhìn thấy trong cấu trúc lệnh kỳ quặc mà anh ta thiết lập. Chỉ huy hạm đội không trực tiếp dưới quyền của đại đô đốc, ít nhất là về mặt lý thuyết. Thay vào đó, Raeder thiết lập hai trụ sở nhóm hải quân (trước đây là các quận hải quân Baltic và Biển Bắc), các bộ phận này trực thuộc ông, và chỉ huy hạm đội trực tiếp cấp dưới cho một trong số này. (Nếu hạm đội đang hoạt động ở Baltic, anh ta báo cáo với Naval Group East, ngược lại là Naval Group West. Có thể hiểu, nếu hạm đội bị tách ra, anh ta có thể là cấp dưới của cả hai. Sau đó, các nhóm hải quân khác được thành lập.) Tuy nhiên, bản thân Raeder thường ra lệnh trực tiếp cho chỉ huy hạm đội, bỏ qua sở chỉ huy của nhóm: một sự vi phạm trực tiếp và rõ ràng đối với chuỗi chỉ huy. Không có gì lạ khi một chỉ huy trên biển nhận được những mệnh lệnh trái ngược nhau từ Berlin và từ chỉ huy nhóm. Tệ hơn nữa, các mệnh lệnh của Raeder thường rất mơ hồ. Nhưng những cái đầu sẽ lăn lộn nếu một đô đốc không hành động chính xác như Raeder nghĩ - mọi bước của con đường.

Đô đốc Wilhelm Marschall

Một ví dụ điển hình về tính giỏi giang của Raeder là trường hợp của Tư lệnh Hạm đội, Đô đốc Wilhelm Marschall, một sĩ quan tài năng (và có thể là xuất chúng), người đã nắm rõ các chiến thuật hải quân. Sinh ra tại Augsburg, Bavaria, vào ngày 30 tháng 9 năm 1886, ông gia nhập hải quân với tư cách là một thiếu sinh quân biển (Seekadett) năm 1906. Được đưa vào hoạt động năm 1909, ông phục vụ trong một số loại tàu, từ thiết giáp hạm đến tàu chiến. Sau đó, vào năm 1916, ông tình nguyện đến trường U-boat. Trong hai năm cuối của cuộc Đại chiến, ông đã chỉ huy UC-74 (một tàu ngầm đặt mìn) và sau đó là UB-105 và đưa một số tàu của Đồng minh xuống phía dưới. Do đó, vào ngày 4 tháng 7 năm 1918, ông được trang trí bằng huy chương cao quý nhất của Đế quốc Đức, Pour le Merite. Sự nghiệp sau chiến tranh của Marschall cũng rất nổi tiếng và bao gồm các chuyến công du với tư cách chỉ huy tàu khảo sát Panther (1924–1926), sĩ quan đầu tiên của các thiết giáp hạm Schleswig-Holstein (1929–1930) và Hanover (1930–1931), tham mưu trưởng Biển Baltic Trạm Hải quân (1931–1934), chỉ huy thiết giáp hạm Hessen (1934) và thiết giáp hạm bỏ túi Đô đốc Scheer (1934–1936), chỉ huy trưởng các hoạt động của OKM (1936–1937), và chỉ huy Lực lượng Biển Đức tại Tây Ban Nha trong thời Tây Ban Nha. Nội chiến (1937–1938). Ông là chỉ huy của thiết giáp hạm bỏ túi (Panzerschiffen) khi chiến tranh nổ ra.

Marschall lần đầu tiên đụng độ Đại Đô đốc Raeder vào tháng 11 năm 1939, khi ông đưa tàu Scharnhorst và Gneisenau ra Biển Bắc. Mục tiêu của ông là tạo ra một cuộc chuyển hướng có lợi cho Deutschland, vốn đang cố gắng trở về nhà sau một cuộc đột kích đáng thất vọng vào Đại Tây Dương. Đúng như anh ta hy vọng, Hạm đội Nhà của Anh đã đuổi theo hai thiết giáp hạm, cho phép Deutschland tiến vào vùng biển của Đức một cách an toàn. Sau đó, Marschall không chỉ lảng tránh cái bẫy của người Anh, ông còn cô lập và đánh chìm tàu ​​tuần dương vũ trang Rawalpindi của Anh trong quá trình này. Tuy nhiên, anh ta không nhận được lời cảm ơn nào từ Bộ Hải quân Đức - chỉ có những cuộc tấn công bất công và dã man và ngụ ý rõ ràng rằng công việc của anh ta đang gặp nguy hiểm. Có vẻ như thiết giáp hạm Đức đã rút lui sau khi nhìn thấy hình bóng của một con tàu chìm trong bóng tối vào đêm ngày 23 tháng 11. Raeder, người từng là người chỉ trích chủ tọa, đã rất tức giận vì Marschall đã không tấn công và đánh chìm chiếc tàu thứ hai của Anh - bất kể đó là gì. Marschall lẽ ra phải tấn công một con tàu không xác định vào ban đêm, ở giữa hạm đội Anh, khi bất kỳ thiệt hại nào làm chậm tốc độ của anh ta dù chỉ một chút cũng có thể khiến Đức thiệt hại một trong hai thiết giáp hạm đang hoạt động của cô ấy? Điều này từ Raeder, người trước đó đã ra lệnh rằng tàu vốn không nên mạo hiểm? "Cho đến bây giờ," Marschall nhận xét, "chưa ai từng đặt câu hỏi về tiên đề hải quân rằng các tàu thủ đô nên tránh tất cả các cuộc tiếp xúc vào ban đêm với tàu phóng lôi và tàu trinh sát." Tất nhiên, Marschall đã khá đúng: giải thưởng tiềm năng đơn giản là không đáng để mạo hiểm. Tuy nhiên, Raeder vẫn tiếp tục tung ra các cuộc tấn công dữ dội, nhưng không bao giờ chính thức và không bao giờ trực diện. Anh ta không bao giờ cho Marschall cơ hội để tự vệ. Thay vào đó, anh ta đưa ra những nhận xét khó nghe sau lưng Marschall nhưng ở những nơi mà anh ta có thể chắc chắn rằng lời nói đó sẽ được gửi lại cho chỉ huy hạm đội.

Ngay từ đầu cuộc chiến, cả Đô đốc Raeder và Winston Churchill đều mong muốn điều tương tự: Na Uy. Raeder muốn điều đó để ngăn người Anh cắt đứt nguồn cung cấp quặng sắt Thụy Điển của Đức, vốn được vận chuyển qua cảng Narvik phía bắc Na Uy, và ngăn người Anh chặn lối ra của Đức đến Biển Bắc, như họ đã từng làm trong Thế chiến. I. Churchill muốn nó vì những lý do ngược lại. Ngoài ra, Raeder muốn có những cảng tuyệt vời mà Na Uy cung cấp.

Ban đầu Hitler phản đối ý định xâm lược Na Uy vì ông ta không tin rằng người Anh sẽ vi phạm quyền trung lập của Na Uy. Vào ngày 24 tháng 12 năm 1939, Raeder đã sắp xếp một cuộc gặp giữa Hitler và Vidkun Quisling, người đứng đầu phiên bản Na Uy của Đảng Quốc xã, với nỗ lực thay đổi ý định của Hitler, nhưng không có kết quả. Chỉ đến tháng 2 năm 1940, khi một tàu chiến Anh tấn công một tàu Đức không vũ trang trong vùng biển Na Uy (để giải cứu một số tù nhân Anh), Hitler mới đưa ra kết luận chính xác: Vương quốc Anh sẽ vi phạm quyền trung lập của Na Uy, và tốt hơn là ông ta nên hành động nhanh chóng để ngăn chặn tổn thất của nguồn cung cấp quặng sắt quan trọng của mình.

Được Churchill thúc giục, Hội đồng Chiến tranh Tối cao của Đồng minh quyết định vào ngày 5 tháng 2 để chiếm Narvik và các mỏ sắt của Thụy Điển tại Gaellivare, với lý do gửi viện trợ cho người Phần Lan, những người đang chiến đấu với Liên Xô trong Chiến tranh Mùa đông 1939–1940. Kế hoạch của Đồng minh bị cản trở chỉ vì Phần Lan kiện đòi đình chiến. Tuy nhiên, Đệ nhất Lord of the Admiralty Churchill đã không bỏ cuộc. Trên thực tế, người Anh đã bắt đầu đặt mìn ở vùng biển Na Uy vào ngày 8 tháng 4, trong khi tại các cảng của Scotland, binh lính Anh đã ở trên các tàu chở quân, chờ đợi phản ứng của Đức mà Churchill và đồng bọn hy vọng việc đặt mìn sẽ kích động. Sau đó, họ phải đưa Kế hoạch R 4 — việc Đồng minh chiếm đóng Narvik, Trondheim, Bergen và Stavanger — vào thực hiện ngay lập tức. Họ đã quá muộn: Hạm đội Đức đã lên đường.

Chiến dịch Weserueburg Nord, chiếm đóng Na Uy, là hành động lớn duy nhất do hạm đội tàu nổi của Đức tiến hành trong Thế chiến thứ hai. Đó cũng là đóng góp lớn của Erich Raeder cho nỗ lực chiến tranh của Đức. Đó là một kế hoạch cực kỳ táo bạo và táo bạo, được thực hiện khi đối mặt với tỷ lệ cược gần như áp đảo. Mặc dù hầu như toàn bộ hạm đội Đức đã cam kết, nó không thể sánh được với Hạm đội Nhà của Hải quân Hoàng gia, do đó, một sự can thiệp của Anh khi hạm đội đang ở trên biển sẽ dẫn đến thất bại trong hoạt động và sự tiêu diệt ảo của Hải quân Đức. Mọi thứ phụ thuộc vào tốc độ, sự bất ngờ và thời gian chính xác. Kế hoạch chi tiết được thực hiện bởi một nhân viên dưới sự chỉ đạo của Đại úy Theodor Krancke và được sửa đổi bởi Bộ Tham mưu Hải quân tối cao dưới thời Raeder. Nó chủ yếu bao gồm một đội tàu chiến gồm 11 nhóm (để rà phá bãi mìn và tiến hành đổ bộ) một tàu chở dầu và tàu xuất khẩu (chở thiết bị quân sự và nhiên liệu cho chuyến đi của các tàu khu trục trở lại vùng biển của Đức) và một đội tàu vận tải biển gồm tám nhóm, hình thành nên sự di chuyển quân và tiếp tế chủ yếu. Bất chấp sự phản đối của Doenitz (xem phần thảo luận sau), 42 tàu ngầm vẫn đóng quân ngoài khơi bờ biển Na Uy, để tấn công Hải quân Hoàng gia nếu lực lượng này cố gắng can thiệp. Như Raeder đã thấy, phần nguy hiểm nhất của chiến dịch sẽ là việc đưa các tàu chiến trở về căn cứ địa của họ. Họ sẽ bị tấn công bởi các lực lượng Anh vượt trội trên hầu hết các chặng đường quay trở lại. Tuy nhiên, nếu mọi thứ diễn ra theo đúng kế hoạch, chỉ có các tàu ngầm mới giao chiến với lực lượng hải quân của đối phương.


Sự bảo vệ của Raeder: Đô đốc Đức chiến đấu vì hạm đội đã diệt vong của mình

Các tài liệu do lực lượng Đồng minh thu giữ vào cuối Chiến tranh thế giới thứ hai đã làm sáng tỏ cuộc đấu tranh liên tục mà các sĩ quan quân đội cấp cao của Hitler đã trải qua khi tiến hành chiến tranh và lý luận với ông chủ cố ý của họ.

Nhà độc tài đã chán ngấy với những gì ông ta cảm thấy là KriegsmarineHoạt động kém hiệu quả ở Địa Trung Hải và Bắc Đại Tây Dương, nhưng sự tức giận của ông lên đến đỉnh điểm sau một cuộc tấn công thất bại vào một đoàn tàu vận tải của Đồng minh ở Biển Barents vào tháng 12 năm 1942. Ông ra lệnh cho Đại đô đốc Erich Raeder đệ trình kế hoạch cập cảng các tàu lớn của hải quân. . Raeder trở lại vài ngày sau đó với những khẩu súng rực lửa.

“Nếu các tàu lớn của Đức ngừng hoạt động, hậu quả sẽ là thảm khốc không chỉ đối với tình hình của chúng ta mà còn đối với chiến lược hải quân tổng thể,” Raeder nói trong một bản ghi nhớ dài 5.000 từ được đệ trình vào ngày 15 tháng 1 năm 1943, khoảng hai tuần sau trận chiến trên biển ở mà một số tàu khu trục của ông đã nhầm các tàu Đồng minh với tàu của họ. “Sẽ có những hậu quả nhanh chóng và nghiêm trọng ở các rạp chiếu phim khác đối với các đồng minh của chúng ta.

“Nếu chúng ta rút mối đe dọa khỏi Đại Tây Dương,” ông tiếp tục, “kẻ thù sẽ có thể tập trung sức mạnh của mình ở một nơi khác, và không cần nỗ lực nào từ phía hắn để đạt được thành công quyết định như vậy.

“Anh ấy sẽ có thể sử dụng tình huống này để giải quyết dứt điểm vấn đề Địa Trung Hải hoặc anh ấy có thể dồn toàn bộ sức mạnh của những con tàu tốt nhất của mình để giáng một đòn quyết định vào hạm đội Nhật Bản. Trong cả hai trường hợp, anh ta sẽ giành lại thế chủ động mà anh ta đã mất hoặc ít nhất là đã bị hạn chế nghiêm trọng.

“Không thể lường trước được hậu quả”.

Bản ghi nhớ được chuẩn bị bởi một số sĩ quan cấp cao nhất trong Bộ phận Tác chiến của Bộ Tham mưu Hải quân Đức. Bản thảo cuối cùng cho thấy những chỉnh sửa cẩn thận do chính Raeder thực hiện — hầu hết đều nhằm mục đích tránh mọi chỗ cho sự hiểu sai có thể làm mất lòng Hitler.

Raeder cũng xóa các tính toán chi tiết liên quan đến khả năng phân bổ lại súng và các thiết bị khác từ các tàu bị tháo dỡ. Tuy nhiên, khi bản ghi nhớ nói về vai trò của Hải quân Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai, một đánh giá tình báo của Hoa Kỳ cho biết những chỉnh sửa cuối cùng của Raeder “nhằm đưa ra quan điểm của ông ấy dưới hình thức rõ ràng và thẳng thắn nhất”.

Ông đính kèm bản ghi nhớ vào một bức thư ngắn gọn gửi đến “ Quốc trưởng và Tư lệnh tối cao của các lực lượng vũ trang. ” Bức thư, như tình báo Đồng minh mô tả, là lời cầu xin cuối cùng của Kriegsmarine.

“Việc cho ngừng hoạt động các tàu mặt nước lớn sẽ là một chiến thắng [và sẽ] gây ra niềm vui trong quân đội thù địch, và sự thất vọng sâu sắc trong quân đội của các đồng minh của chúng ta, đặc biệt là Nhật Bản,” Raeder viết. "Nó sẽ được coi là một dấu hiệu của sự yếu kém và thiếu hiểu biết về tầm quan trọng tối cao của tác chiến hải quân trong giai đoạn cuối của cuộc chiến đang đến gần."

Bản thân bản ghi nhớ đã được Vai trò của Lực lượng Mặt trận Hải quân Đức trong Nỗ lực Chiến tranh của các Lực lượng Ba bên.

Trong đó, Raeder giải thích rằng lực lượng hải quân của Đức Quốc xã được thiết kế và xây dựng để tấn công vào các điểm yếu của các cường quốc hải quân thù địch - đặc biệt là liên lạc đường biển Anh-Mỹ. Tài liệu cho biết: “Sự tồn tại của người Anh phụ thuộc vào những liên lạc này, điều này cũng tạo thành điều kiện tiên quyết cho toàn bộ nỗ lực chiến tranh của Anh,” tài liệu cho biết. “Đối phương vượt trội về nhân lực, nguyên liệu và tiềm lực công nghiệp. Vấn đề chính của anh ấy là duy trì các tuyến tàu quan trọng tới Nga, để anh ấy có thể vận chuyển người, vật chất và vật tư đến những điểm mà anh ấy muốn mang sức mạnh tấn công của mình ”.

Điều này đòi hỏi phải có đủ tàu với đủ sức mạnh chiến đấu và tầm bay để thực hiện công việc. Nhưng việc xây dựng của Đức chỉ mới bắt đầu một cách nghiêm túc vào năm 1939, ông lưu ý, và việc đóng những con tàu lớn phải mất nhiều năm.

“In order to increase quickly the number of our submarines, it was decided to complete construction of only those ships which were already in the final building stage. Construction of the other big ships was stopped.

“By this decision the German Navy was prevented from cutting the British sea communication lines in the course of the Greater German War for Freedom, and thereby to put a speedy end to the war. All emphasis of the construction program had to be placed upon submarines which were able to operate on the oceans against enemy shipping even without the support of large surface ships.”

Auxiliary cruisers were assigned to operations in remote areas light naval forces, destroyers, torpedo boats and PT boats operated in enemy coastal waters, and the large ships of the fleet were committed to offensive operations against overwhelming enemy forces. However, the occupation of Norway consumed Germany’s larger naval resources.

“Our big ships were not called upon to attack enemy forces encountered at sea or to seek an engagement,” said the document. “Every loss weighed incomparably more on our side than on the side of the far superior enemy, even any minor damage that might arise from the hazards of war at sea, such as a reduction of speed.”

“A German naval task force properly distributed along the western coast of France would have constituted the most effective obstacle for an Allied landing in North Africa, but for this we lacked sufficient strength,” said the memorandum.

“Since the spring of 1942 the command of our fleet had to limit further operations due to the lack of sufficient air support for reconnaissance and escort, and since it was impossible to provide our ships with the additional fighting power of carrier-based aircraft.

“Nevertheless, the opportunity still exists for our ships to keep on a sharp lookout and to await a moment favourable for an engagement. Even in the absence of sufficient air reconnaissance and air cover, favourable weather conditions and the element of surprise can be utilized at any time to achieve success.”

Dismantling the nucleus of the German fleet—the big ships Tirpitz, Scharnhorst, Gneisenau, Scheer, Luetzow, Prinz Eugen, và Admiral Hipper—would “constitute a bloodless victory for the enemy,” the memorandum said.

“For us, the result would be that the enemy could operate in our coastal waters at his own discretion. It is not possible to maintain air forces in sufficient strength and in constant readiness for defence, especially in northern waters. Even if this were possible, weather conditions such as low ceiling would prevent their successful operation at times.

“We would practically be offering our coastline to the enemy,” the document warned. “Light naval units alone cannot ward off such operations.”

  • About 300 officers and 8,500 enlisted men would become available—less than 1.4 per cent of naval personnel.
  • 125,800 tonnes of iron would be obtained if the ships were scrapped—less than 1/20 of the German monthly requirements.
  • Savings in raw materials, fuel, yard facilities, shipyard workers, etc. would be consumed in large part by the process of mounting the ship guns as shore batteries.
  • Fifteen batteries could be constructed from the newly accessible guns, the first of which would not be ready for action for a year after the order to scrap the ships, the last of them after 27 months.
  • Scrapping the big ships would require the work of 7,000 men in five large shipyards for one-and-a-half years.
  • Benefits to the U-boat program would be slight. Of 300 officers available for reassignment, only about 50 would be gained for the submarine arm. Others would be too old or otherwise unsuitable.
  • If all the scrapped ship iron was used exclusively for U-boat construction, seven more submarines per month could be built, provided 13,000-14,000 specialized workers could be allocated for the job.

“The disappearance of our nucleus fleet will have the most serious political and psychological repercussions in the nations, among our allies and among the neutrals,” said the paper. “Our nation…will conclude that we have abandoned all hope of winning this war by decisive naval operations.

“Our allies, and especially Japan, have felt the full impact of the enemy’s sea power, and they have fought it. They would not be able to comprehend our voluntary abandonment but would see in it a serious sign of weakness of the German war effort.

“The neutral powers too can evaluate a weakening of our naval strength only as a sign of declining strength. Yet to the enemy the disappearance of our warships will represent a political triumph.”

In conclusion, Raeder’s report said it is “impossible to foretell where and how soon the course of the war may demand the exercise of naval power for decisive intervention. It will be our own fault if at such a decisive hour our big ships are lacking, and then it will be too late.”

Raeder resigned two weeks later, on Jan. 30, 1943. He was named Admiral Inspector, a ceremonial office. Dönitz would go on to succeed Hitler and surrender 16 months later.

Raeder was captured by Soviet troops on June 23, 1945, and imprisoned in Moscow. He stood trial at Nuremberg, where he was sentenced to life for conspiracy to commit crimes against peace, war crimes, and crimes against humanity along with planning, initiating, and waging wars of aggression and crimes against the laws of war.

He carried on a constant feud with Dönitz in prison before he was released on health grounds in September 1955. He died in Kiel on Nov. 6, 1960, and was buried in the city’s Nordfriedhof (North Cemetery).


Under the Weimar Republic

From the High Seas Fleet Mutiny to the Kapp putsch

In the First World War, Raeder's two younger brothers were both killed in action, and in 1919 his first marriage, which had been under heavy strain due to war-related stresses ended in divorce. [18] For the puritanical Raeder, the divorce was a huge personal disgrace, and as a result for the rest of his life, he always denied his first marriage. [18] The years 1918-1919 were some of the most troubled in his life. [18]

In the winter of 1918-19, Raeder was closely involved in the efforts of the naval officer corps, strongly backed by the Defense Minister Gustav Noske-a Majority Social Democrat with firm law and order views-to disband the sailors' councils established after the mutiny. [19] During this period, Raeder served as the liaison between the naval officer corps and Noske, and it was Raeder who suggested to Noske on 11 January 1919 that Adolf von Trotha be appointed Commander-in-Chief of the Navy. [20] Tirpitz's attacks on the Emperor's leadership during the war had caused a split in the officer corps between the followers of "the Master" and the Kaiser, and Raeder wanted Trotha as the only officer acceptable to both fractions. [20] Noske in turn asked the Navy for volunteers for the Freikorps to crush uprisings from the Communists. [21] The Navy contributed two bridges to the Freikorps. [22] The price of the Navy supporting the Freikorps was the continuation of the Navy's "state-within-the state" status and the end of attempts to democracise the military. Under the Weimar republic, the military considered itself überparteiliche (above party), which did not mean political neutrality as implied. [23] The military argued that there were two types of "politics", parteipolitisch (party politics) which was the responsibility of the politicians and staatspolitisch (state politics) which was the responsibility of the military. [23] Staatspolitisch concerned Germany "eternal" interests and the "historic mission" of winning world-power, which was to be pursued regardless of what the politicians or the people wanted. [23]

After the war, in 1920, Raeder was involved in the failed Kapp Putsch where together with almost the entire naval officer corps he declared himself openly for the "government" of Wolfgang Kapp against the leaders of the Weimar Republic. [2] In the summer of 1920 Raeder married his second wife, by whom he was to have one son.

From the Kapp putsch to the Inspector of Training

After the failure of the Kapp putsch he was marginalized in the Navy, being transferred to the Naval Archives, where for two years he played a leading role in the writing of the Official History of the Navy in World War I. [24] After this, Raeder continued to rise steadily in the navy hierarchy, Vizeadmiral (Vice Admiral) in 1925.


Erich Raeder

In the immediate aftermath of the Holocaust, the world was faced with a challenge—how to hold individually accountable those German leaders who were responsible for the commission of monstrous crimes against humanity and international peace. The International Military Tribunal (IMT) held in Nuremberg, Germany, attempted to face this immense challenge. On October 18, 1945, the chief prosecutors of the IMT brought charges against 24 leading German officials, among them Erich Raeder.

Erich Raeder (1876–1960) was Commander in Chief of the German Navy until his resignation and retirement in May 1943.

At the International Military Tribunal held in Nuremberg, Raeder was found guilty on counts one, two, and three (conspiracy, crimes against peace, and war crimes). He was sentenced to life imprisonment. Raeder was released due to poor health in 1955, having served only nine years of his sentence.

Defendants Karl Doenitz (left), Erich Raeder (center), and Baldur von Schirach under guard in the defendants' dock at Nuremberg. - Harry S. Truman Library


Cơ sở dữ liệu về Chiến tranh thế giới thứ hai


ww2dbase Erich Johann Albert Raeder was born into a middle-class family in Wandsbek, Hamburg, Germany. He joined the Imperial German Navy in 1894. By 1912 he was already the Chief of Staff for Franz von Hipper. During WW1, he participated in the Battle of Dogger Bank in 1915 and the Battle of Jutland in 1916. He joined the admiral rank in 1922 with a promotion to rear admiral. He was promoted vice admiral in 1925 and full admiral in 1928. Although he disliked the Nazi philosophy, he supported Adolf Hitler's rise for the opportunity to strengthen the navy. On 20 Apr 1936, Hitler presented him with the rank of general admiral he was later awarded the rank of grand admiral in 1939.

ww2dbase When the military phase of WW2 broke out in Europe, Raeder was instrumental in Germany's interest in Denmark and Norway, which gained the Kriegsmarine valuable ports on the long Norwegian coast. Understanding that his navy cannot compete with its British counterparts, he voiced against a German invasion of Britain, but the planning for Operation Sealion continued nevertheless. That plan was later postponed indefinitely after Göring's inability to win the Battle of Britain. Raeder also voiced his recommendation against an invasion of Russia, but as the Russian invasion largely involved land forces, he had even less influence on the decision making process. During 1943, his career became overshadowed by the recent successes of Admiral Karl Dönitz. Raeder finally resigned from his position in May 1943 Dönitz had already taken over Raeder's command position in Jan 1943.

ww2dbase After the war Raeder was sentenced to life imprisonment at the Nuremberg Trials for waging a war of aggression. The sentence was later reduced, and then he was released early on 26 Sep 1955 for health reasons. He wrote an autobiography in 1957 and passed away in Kiel in 1960.

ww2dbase Nguồn: Wikipedia.

Last Major Revision: Feb 2006

Erich Raeder Interactive Map

Erich Raeder Timeline

24 Apr 1876 Erich Raeder was born.
13 Dec 1935 Representatives of Deutsche Werke Kiel AG in Germany met with Erich Raeder on the construction of a third slip.
23 Oct 1939 On being told by Admiral Erich Raeder that he lacked adequate support from both the civil administration and the other two military branches, Adolf Hitler sent a memorandum to the Air Force and Army Commanders-in-Chiefs as well as to the Ministers concerned. The memo made it clear that "All measures for attacking the merchant shipping and economic resources of Great Britain were to be directed through the O.K.W. (Oberkommando der Wehrmacht)." This gave Raeder the chance to press for a relaxation of the restrictions on sinking neutral vessels trading with England. Hitler however remained adamant that any incidents should be forbidden until he was ready to strike on land. He told the admiral that he was worried about the name of the heavy cruiser Deutschland. As soon as she arrived back her name was to be changed to Lützow. "Should she be sunk with her present name it would have serious repercussions back home." Hitler then ordered a meeting of Naval Staff in Berlin, Germany on 1 Nov 1939.
1 Nov 1939 In a meeting with General Wilhelm Keitel and Lieutenant Commander Karl-Jesko von Puttkamer, Adolf Hitler's liaison officer with the Naval War Staff in Berlin, Hitler repeatedly told the officers that the name of the cruiser Deutschland should be changed and the ship was to avoid any action the same orders were to be issued to the Scharnhorst and the Gneisenau. Hitler was worried that any action would bring out the British Grand Fleet before air protection was organised. The Graf Spee, on station in the South Atlantic was to be ordered to be ready to sail to the Indian Ocean. Any operations of battleships must be held until Italy entered the war and the British Forces consequently held down. Submarine warfare was to be intensified. Passenger ships could be attacked and neutral ships would be attacked once a state of siege be declared against Britain. Hitler would not give priority to the production of submarines however, as Army equipment and ammunition supplies were of prime importance. Erich Raeder sent a copy to Admiral Karl Dönitz, Commander of the Submarine Arm with a note saying that in order to carry out a large scale submarine war then continuous pressure would be necessary.
15 Nov 1939 Anticipating Adolf Hitler's wishes, Erich Raeder asked his staff officers to evaluate the possibility of an invasion of Britain.
8 Dec 1939 Admiral Erich Raeder requested a meeting with Adolf Hitler as political and military situations were developing quickly in these early days of the war. Great Britain told Germany that they would confiscate all German exports (until then only imports had been treated as contraband). This was because of Germany's act of laying magnetic mines since 18 Nov 1939. Japan, the Netherlands, Belgium, Denmark and Sweden all protested to London about this and Raeder thought it would help him to convince Hitler to sanction his plan for "Siege of England". At the end of the meeting Raeder had got no further with his plans of blockade and realised that the situation would not change until after the invasion of the Low Countries.
12 Dec 1939 Erich Raeder reported to Adolf Hitler after Raeder had met with Norwegian leaders Vidkun Quisling and Albert Viljam Hagelin. Raeder noted of the Norwegian popular hostility toward Germany, Britain's great influence on the Norwegian government through its high court, and the possibility that Britain might soon occupy Norway. Hitler stated that Britain must never be allowed to occupy Norway. Raeder also recommended Hitler to be neutral in the Winter War, although it was advisable to continue supplying fuel for Soviet submarines.
15 Dec 1939 Erich Raeder suggested that the pocket battleship Lützow and the blueprints for the Bismarck-class battleships could be made available for sale to the Soviet Union if the Soviet Union was willing to pay a good price.
20 Jun 1940 Adolf Hitler, jubilant over the victory in France, summoned his military chiefs to the Wolfsschlucht I headquarters in the village of Brûly-de-Pesche, Belgium to discuss the future regarding Britain and the situation that Germany faced.
21 Jun 1940 Erich Raeder met with Adolf Hitler to discuss the invasion of Britain.
11 Jul 1940 A meeting between Admiral Erich Raeder and Adolf Hitler took place at the Obersalzberg, Berchtesgaden, Germany where matters of how things were in Norway and Hitler's plans for that area were made clear. How to continue the war against Britain was discussed and again Hitler made it clear of his aims and that no invasion was to take place until all efforts had been made to bring the British government to sue for peace. However, within the next few days Hitler would change his mind.
13 Aug 1940 Erich Raeder met with Adolf Hitler and attempted to convince Hitler to reduce the landing front for the planned invasion of Britain as the German Navy had little means to maintain the security of a wide landing area.
6 Sep 1940 Erich Raeder met with Adolf Hitler in regards to the invasion of Britain.
26 Sep 1940 Erich Raeder met with Adolf Hitler, noting that the Italian territories in the Mediterranean Sea was in danger of being attacked by the British as he deduced from the importance the British had placed on the region historically. To prevent this, he recommended Hitler to make plans to seize Gibraltar, the Canary Islands, and the Suez Canal.
27 Dec 1940 Erich Raedar met with Adolf Hitler in Berlin, Germany.
4 Feb 1941 Erich Raeder thought that the US entry into the war might be advantageous for the Germans as it would force Japan into belligerency.
18 Mar 1941 Adolf Hitler met with Wilhelm Keitel, Alfred Jodl, and Erich Raeder Raeder urged Hitler to convince Japan to attack Singapore and recommended Hitler to reveal the plans of the Soviet invasion to Japan.
20 Apr 1941 Erich Raeder attempted to convince Adolf Hitler to allow German submarines to attack American ships Hitler rejected the request, citing his unwillingness to provoke the Americans to fully enter the war.
22 Apr 1941 Erich Raeder reported to Adolf Hitler regarding American belligerency despite of neutrality pledges.
22 May 1941 Erich Raeder responded to Adolf Hitler's inquiry regarding a German occupation of the Azores islands as long range bomber bases (although Germany had no such bombers at that time) as difficult, as the German Navy was not strong enough to guard the islands should they be taken.
30 May 1941 Erich Raeder recommended Adolf Hitler an attack on the Suez Canal in Egypt.
17 Sep 1941 At Adolf Hitler's Wolfsschanze headquarters in East Prussia, Germany, Erich Raeder once again asked Hitler for permission to attack American shipping Hitler again rejected him.
12 Dec 1941 In a meeting with Adolf Hitler, Erich Raeder noted to Hitler that the Americans would most likely divert warships to the Pacific Ocean which was advantageous for the German Navy.
6 Jan 1943 In a conference between Adolf Hitler and Erich Raeder, Hitler continued to express his anger in the German Navy's ineffectiveness. Raeder asked to be relieved of his duty.
30 Jan 1943 Erich Raeder was officially relieved of his duty as the head of the German Navy.
26 Sep 1955 Erich Raeder was released from Spandau Prison in Berlin, Germany.
6 Nov 1960 Erich Raeder passed away.

Bạn có thích bài viết này hoặc thấy bài viết này hữu ích? Nếu vậy, vui lòng xem xét hỗ trợ chúng tôi trên Patreon. Ngay cả $ 1 mỗi tháng cũng sẽ đi một chặng đường dài! Cảm ơn bạn.


Erich Raeder I

Erich Raeder was born on April 24, 1876, at the small seaside resort of Wandsbeck (near Hamburg), where his father, Hans Raeder, was a teacher of French and English at a public school. His mother’s father was Albert Hartmann, a musician at the royal court, and she instilled in him a love for music that stayed with him his entire life. In the spring of 1889, Dr. Raeder was transferred to the small town of Gruenberg, Silesia, where his son matriculated with honors in March 1894. Young Erich immediately applied to join the Imperial German Navy, a decision he had taken only two weeks before.

Unlike the army, the Imperial Navy did not place a premium on a young man’s Prussian Junker background, so Raeder’s middle-class origins would not be held against him. He was accepted at once and ordered to report to Kiel on April 1 to begin his training. Perhaps because of his lack of athletic ability, his initial homesickness, and his relatively small stature (he was only five foot six), Raeder was at first seemingly overlooked by his superiors. However, his academic achievement was such that he graduated first in the class of 1895, becoming a Faehnrich zur See (midshipman). By that time he had already made training cruises in the Baltic Sea and to the West Indies. Further training followed in navigation, gunnery, torpedoes, mines, tactics, sports, and sailing. He again excelled and in the fall of 1897 was commissioned ensign and assigned to SMS Sachsen as the signals officer. Undoubtedly he made a good impression, for shortly thereafter he was made signals officer for the battleship Deutschland, the flagship of Prince Heinrich, the brother of the Kaiser and commander of the Eastern Squadron. Young Ensign Raeder was thus a member of the admiral’s staff as well and, as an additional duty, was in charge of the ship’s band.

The Deutschland sailed for China in late 1897. Prince Heinrich soon took his young communications officer under his wing and Raeder accompanied him to Tsingtao, Peking, Port Arthur, Vladivostok, Japan, Korea, the Philippines, Saigon, and other stations. Promoted to lieutenant in 1901, Raeder returned to Kiel as a training officer. Later that year, however, he was transferred to the battleship Kaiser Wilhelm der Grosse, the new flagship of his mentor, Prince Heinrich, who was now the commander of the 1st Battleship Squadron. From 1903 to 1905 he attended the Naval Academy at Kiel, a sure sign that he had impressed his superiors and was marked for distinction. During this period he was sent to Russia for three months of advanced language training. (He chose Russian because he was already fluent in French and English and was studying Spanish on his own time.) After graduating from the academy in 1905, he served as navigation officer for the coastal defense armored ship Frithjof and on April 1, 1906, was posted to the Naval Information Office in Berlin, where he dealt with the foreign press and edited the naval journal Marine Rundschau (Naval Review) and Nauticus, the German naval annual. “Clear-headed and responsive to another point of view, he was exactly the man to deal with foreign press questions and to present an acceptable exterior to the many anxious inquirers from other countries,” a former officer wrote of him later. He also proved to be an excellent writer and was calm and composed, without being eloquent, when being interrogated by foreign journalists. All of this combined to create a very favorable impression. He also attracted the attention of the Imperial Navy’s leading benefactor, Kaiser Wilhelm II, who, in 1910, named him navigation officer for his personal yacht, the Hohenzollern. This was quite an honor for Raeder, who remained something of a monarchist his entire life. Even as the commander-in-chief of Hitler’s navy, his personal flag carried the colors and emblems of the Imperial Navy, rather than the swastika

Raeder was promoted to commander in 1911 and the following year became senior staff officer (and in 1917 chief of staff) to Vice Admiral Ritter Franz von Hipper, the commander-in-chief of the reconnaissance forces of the German High Seas Fleet. In 1914 and 1915, he took part in mining operations and hit-and-run attacks against the British coast and in support operations for the German Army in the Baltic area. He also fought in the battles of the Dogger Bank (April 24, 1915) and Jutland (May 21, 1916), called the Battle of the Skaggerak by the Germans. Here he was in the navigation room of the Luetzow when it was battered to pieces by British warships. Somehow Raeder escaped the inferno and ended the battle aboard a cruiser.

In January 1918, Raeder left Hipper’s staff and took command of the light cruiser Koeln II, a post he held until October. Shortly before the war ended, Captain Raeder became chief of the Central Bureau of the German Naval Command.

In late October and early November 1918, the German High Seas Fleet mutinied, an event that sparked the revolution that swept away the House of Hohenzollern. Wilhelm II fled into exile in Holland on November 9, and the Weimar Republic was proclaimed in Berlin a few hours later. From the beginning, Captain Raeder was deeply involved in the political maneuvering that accompanied the birth of the republic. With the admirals of the old naval command in disgrace and retiring in droves, the conservative Raeder wanted to make sure that the new commander of the navy was not someone from the political left. He therefore visited the new defense minister, Gustav Noske, almost as soon as he arrived in Berlin. During this meeting, Raeder emphasized that the new head of the navy should be an active officer who had the confidence of the Officer Corps. He added that Admiral Adolf von Trotha, the then chief of the Personnel Office (and former chief of staff of the High Seas Fleet), was just such a man. Noske was receptive and sent Raeder to discuss the matter with Friedrich Ebert, the new president of the republic. It is impossible to tell if Raeder’s actions were decisive, but von Trotha was eventually appointed.

Naturally, Erich Raeder was selected for retention in the 15,000-man navy of the Weimar Republic, where he did what he could to circumvent the harsh Treaty of Versailles, later telling the judges at Nuremberg that he did so “as a matter of honor.” In the spring of 1920, he backed Wolfgang Kapp’s Putsch against the republic.6 When this East Prussian monarchist was defeated by a general strike and fled into exile in Sweden, Raeder’s continued presence in the Central Bureau was unacceptable to the government indeed, he was fortunate to have been allowed to remain in the service at all. He was assigned to the Naval Archives—a backwater post, true enough, but much more significant than one might think. Here Raeder had the chance to study the development of the naval tactics and strategy of World War I as they affected Germany. He was also assigned the task of preparing a two-volume history of German cruiser warfare in foreign waters and in the process became a noted naval historian and strategic theorist, especially on the subject of cruiser warfare. His books included Die Kreuzerkrieg in den Auslandischen Gewaessern (published in 1922), Das Kreuzergeschwader (1922), Die Taetigkeit der Kleinen Kreuzer Emden und Karlsruhe (1923), and Der Krieg zur See. In his spare time he attended the University of Berlin and was on the verge of earning his Ph.D. in political science when he was promoted to Konteradmiral (rear admiral) and became inspector of naval education in July 1922.

By this time Raeder was a professed democrat and a strong believer in the Weimar Republic, or so he said. In reality his views had not changed. One officer referred to his attitude as “stage-prop liberalism.” Nevertheless his politically adaptable attitude fooled most of the politicians and parliamentarians. His participation in the Kapp Putsch was forgiven, and he was no longer disqualified from rising to the top posts of the navy. In October 1924, he became commander of Light Reconnaissance Forces, North Sea, and in January 1925, was promoted to vice admiral and made commander of the Baltic Naval District. He became noted for his strict (if fussy) moral code and his strong sense of duty.

In August 1927, the “Lohmann Scandal” rocked the navy. A Berlin newspaper exposed the fact that secret naval rearmament funds existed and were being administered by Kapitaen zur See (Captain) Walter Lohmann of the Naval Transport Department and Captain Gottfried Hansen of the Weapons Department. Among other things, it was revealed that German-designed submarines were being constructed at a Krupp-controlled shipyard in Turkey. A Reichstag investigation followed and, naturally, heads rolled, chief among which were the defense minister and Admiral Hans Adolf Zenker, the chief of the Naval Command. What was needed now was a good republican flag officer to replace the disgraced Zenker. Erich Raeder suited the bill admirably. The fact that President Paul von Hindenburg liked him did not hurt his cause at all. On October 1, 1928, after some unpleasant Reichstag hearings, he was promoted to Admiral (equivalent to U.S. vice admiral) and became chief of the Naval Command—the highest post in the German Navy at that time.

The first item on Raeder’s agenda was to set an authoritarian tone for his administration of the navy. He ordered, among other things, that once he made a decision all officers were to support it, no matter what. He then carried out what the junior officers called the “great seal hunt,” in which several senior officers were forced to retire, supposedly so that bright, young officers could be promoted. However, as Charles Thomas, the noted historian of the German Navy, wrote, “Raeder was clearly taking no chances that his authority might be challenged by one of his more charismatic subordinates, and throughout Raeder’s tenure of office one criticized the commander at one’s peril.”

In his new post Raeder pursued the policy of a balanced fleet—a policy he continued into World War II and one that was disastrous to the German Navy and, indeed, to the entire German war effort.

Basically Raeder was a “big ship” man. He wanted some of every type of naval vessel, but his main reliance was on the Panzerschiff, the so-called pocket battleship—light battle cruisers that could “outrun anything that could defeat it and could defeat anything that could overtake it.” He also authorized the construction of a flotilla of freighters that could double as auxiliary cruisers and a flotilla of trawlers that could quickly be converted into minesweepers. Secretly, but more carefully than Zenker, he continued to support submarine development abroad.

Raeder wanted a navy of highly trained and disciplined men divorced from political activity of any kind. Straitlaced, taciturn, and almost devoid of humor, he was old-fashioned and considered himself the guardian of the morality of the naval officers corps—which included their wives. He once issued an order that officers’ wives could not bob their hair, wear any type of cosmetics or short skirts, or put lacquer on their fingernails! He also had an unpleasant knack for showing up unannounced at isolated bases, poking his nose into crew’s quarters and galleys, and generally making a pest of himself. He was particularly concerned with the appearance of uniforms and flower boxes in barracks’ windows. Such fussiness, plus his regulations prohibiting naval personnel from visiting bars in uniform, or from smoking when driving, walking on the streets, or riding in public vehicles, did not make him particularly popular with his men. Once, a submarine returned after a patrol of several weeks. As soon as it docked, according to one German officer, Admiral Raeder jumped abroad, inspected the men, and reprimanded the crew for its slovenly appearance.

Although fastidious, he was somewhat different at home. Married, with a son, he purchased a modest villa in Charlottenburg (a suburb of Berlin) and enjoyed playing with his dachshund and listening to music. He liked to attend musical concerts (especially if Beethoven or Brahms was being played), enjoyed yachting, and went to every soccer game he could find.

Despite some misgivings, Admiral Raeder welcomed the rise of National Socialism because he could now press on with his naval expansion program without interference—although he was careful not to alienate any possible future governments until after the Nazis came to power on January 30, 1933. He first met Hitler on February 2, 1933, and soon was describing him as “an extraordinary man who was born to lead.” Hitler also was glad to have Raeder in charge of the navy, because the admiral confined his ambition to his own branch of the service, was not a danger to the regime, and seemed to be an excellent adviser on naval affairs, about which Hitler admitted he knew nothing.

The Raeder naval construction program began in earnest in March 1935, when Hitler unilaterally renounced the Treaty of Versailles. On June 18, 1935, German special envoy Joachim von Ribbentrop signed the Anglo-German Naval Treaty in London. Under the terms of this treaty, Germany agreed to restrict the size of its naval forces to 35 percent of those of Great Britain and her Commonwealth—except in the area of U-boats, where Germany was allowed parity. Hitler and Raeder were delighted, for the treaty seemed to rule out the possibility of Britain as a naval adversary. Raeder went so far as to forbid any references to a possible naval war with Britain—even in contingency plans or theoretical studies by his staff. Hitler had told him as early as February 3, 1933, that he wanted peaceful coexistence with Great Britain, and the admiral stubbornly insisted on believing him, to the exclusion of all other possibilities. Raeder continued to maintain this dangerously unrealistic position until May 1938.

It takes much longer to build a navy than an army and, to a much greater degree than with ground forces, a navy must be modeled after that of its most likely enemy. Hitler told Raeder to pattern his navy after those of Russia and France—the most likely enemies. Raeder did so without a backward glance. Neither wanted a war with Great Britain therefore, they assumed that there would be no war with Great Britain. Apparently it never occurred to either of them that, whatever the provocation, Britain might declare war on Germany in 1939, just as she had done in 1914.

The honeymoon period between Raeder and the Fuehrer continued into 1937. In 1935, Raeder’s title was changed to commander-in-chief of the navy, and on April 20, 1936, Hitler used the occasion of his own 47th birthday to promote Raeder to Generaladmiral (full admiral). The straitlaced officer was made an honorary member of the Nazi Party in 1937. Meanwhile, in 1936, the keels were laid for the giant battleships Bismarck (41,700 tons) and Tirpitz (42,900 tons). In the following two years the battle cruisers Scharnhorst and Gneisenau joined the fleet, as did the light cruisers Leipzig and Nuremberg. The heavy cruisers Admiral Hipper and Bluecher followed soon after. Numerous destroyers, submarines, and other vessels were also built during this period, and the 1st U-boat Flotilla was created under Captain Karl Doenitz (see later discussion).

Cracks began to appear in Raeder’s relationship with the Nazi Party in 1938.11 As early as January, Hitler was clearly putting pressure on him, saying that Germany needed a bigger battle fleet and criticizing Raeder for not moving fast enough. The admiral caustically pointed out that his naval construction program was in competition with Hitler’s public works programs, such as the Munich subway system, the huge Volkswagen Works, the autobahns, the reconstruction programs in Berlin and Hamburg, and others. As a result, the shipyards lacked skilled laborers, welders, and raw materials. Hitler ignored the protest but brought up the matter again on May 27 when he demanded, among other things, that the Bismarck and Tirpitz be completed by early 1940, that shipyard capacity be increased, that an artillery U-boat be developed, and that the Type VII U-boat go into mass production. No doubt on Raeder’s instructions, the German Supreme Naval Staff (Seekriegsleitung, or SKL also referred to as the German Admiralty) responded by asking that all nonmilitary construction projects be shut down to release skilled labor for the military. Hitler refused to do this, so the naval construction program struggled slowly forward—well behind Hitler’s schedule for it.

A major part of the problem was that Hermann Goering, the commander-in-chief of the Luftwaffe, was also head of the Four Year Economic Plan, which was in charge of resource allocation to industry and to the various branches of the armed forces. He and the puritanical admiral despised each other. Raeder hated Goering because he blocked all the admiral’s attempts to secure a Fleet Air Arm and because of Goering’s disgraceful part in the Blomberg-Fritsch affair. Goering, on the other hand, undermined Raeder’s standing with Hitler by questioning his political beliefs, by pointing out that he went to church suspiciously often, and by giving the Fuehrer false or misleading information about the navy. Unwilling or unable to curry favor, or to persuade Hitler to overrule Goering on matters of allocation, the admiral saw his program languish. He did not seem overly concerned about it, however. The Fuehrer had told him that he would not need the navy until 1944 at the earliest, and Raeder believed him and acted accordingly.

Raeder was also having trouble from another enemy at court: SS-Gruppenfuehrer Reinhard Heydrich, head of the notorious State Secret Police (Geheimes Staatspolizeiamt, or Gestapo) and the Security Service (the SD). As a young naval officer Heydrich had broken off a marriage engagement in such a “peculiarly tasteless manner” that the young woman subsequently suffered a nervous breakdown. The puritanical Raeder—always the unbending guardian of naval morality—had him hauled before a court of honor and dismissed from the service for “impropriety.” Heydrich retaliated in the late 1930s by trying to “get something” on Raeder. He never did (because there was nothing to get), but having the vengeful chief of the Gestapo as an implacable enemy would be enough to play on anybody’s nerves. Because of the backbiting political infighting, Raeder was considering resigning in 1938.


Erich Raeder

Erich Raeder, the son of a headmaster, was born in Wandsbek, Schleswig-Holstein, on 24th April, 1876. After a good classical education he entered the Imperial Navy in 1894. He made rapid progress and became Chief of Staff to Franz von Hipper in 1912. During the First World War he saw action and in 1928 was promoted to admiral and head of the German Navy.

Raeder disliked the domestic policies of the National Socialist German Workers Party (NSDAP) but supported Adolf Hitler in his attempts to restore Germany as a great power. In 1939 Hitler promoted Raeder to the rank of grand admiral, the first German to hold this post since Alfred von Tirpitz.

Raeder's strategy was to build a German Navy that could challenge the British Navy. This brought him into conflict with Hermann Goering who as director of the German economy directed more resources to the Luftwaffe than the navy.

In October 1939, Raeder sent Adolf Hitler a proposal for capturing Denmark and Norway. He argued that Germany would not be able to defeat Britain unless it created naval bases in these countries. In April 1940 Hitler gave permission for this move but he was disappointed by the heavy losses that the German Navy suffered during the achievement of this objective.

Raeder supported Operation Sealion, the planned German invasion of Britain, but argued that first the Luftwaffe had to gain air superiority. When Hermann Goering failed to win the Battle of Britain, Reader advised Hitler to call off the invasion. He was also a strong opponent of Operation Barbarossa.

Adolf Hitler grew increasingly disillusioned with the performance of the German Navy and after the LuetzowAdmiral Hipper failed to stop a large Arctic convoy he accused his commander of incompetence. Raeder resigned in January 1943, and was replaced by Karl Doenitz as Commander in Chief of the Navy.

At the Nuremberg War Crimes Trial Raeder was found guilty of conspiring to wage aggressive war and was sentenced to life imprisonment. He was released in 1955 and in retirement wrote his memoirs Mein Leben (1957). Erich Raeder died in Kiel, on November 6, 1960.

Tải xuống ứng dụng di động của chúng tôi để truy cập khi đang di chuyển vào Thư viện ảo của người Do Thái


The J. Paul Getty Museum

Portrait of Erich Raeder, from the chest up. Raider is wearing a navy uniform with ribbon bar. Raeder is looking off to the left.

Nguồn gốc
Nguồn gốc

Volker Kahmen & Georg Heusch, sold to the J. Paul Getty Museum, 1984.

This information is published from the Museum's collection database. Updates and additions stemming from research and imaging activities are ongoing, with new content added each week. Help us improve our records by sharing your corrections or suggestions.

Please be advised that this database may include images and original language considered derogatory, offensive or graphic, and may not be suitable for all viewers. The images, titles, and inscriptions are products of their time and the creator’s perspective and are presented here as documentation, not a reflection of Getty’s values. Language and societal norms shift, and cataloging of a collection is a continuous work in progress. We encourage your input to enhance our understanding of our collection.

Every effort has been made to accurately determine the rights status of works and their images. Please contact Museum Rights and Reproductions if you have further information on the rights status of a work contrary or in addition to the information in our records.

/> The text on this page is licensed under a Creative Commons Attribution 4.0 International License, unless otherwise noted. Images and other media are excluded.